Tổng quan nghiên cứu

Rừng tự nhiên đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì cân bằng sinh thái, bảo tồn nguồn gen và phòng hộ đầu nguồn. Theo báo cáo hiện trạng rừng toàn quốc, tổng diện tích rừng nước ta đạt khoảng 14.682 nghìn ha với độ che phủ 41,19%, trong đó rừng tự nhiên chiếm 71,24% với 10.141 nghìn ha và rừng trồng chiếm 28,76% với 4.541 nghìn ha. Mặc dù diện tích thảm thực vật chiếm tỷ lệ đáng kể, phần lớn các lâm phần tự nhiên hiện nay đã trải qua quá trình khai thác quá mức, dẫn đến tình trạng suy thoái nghiêm trọng về trữ lượng và phẩm chất cây đứng.

Huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên là 56.982,51 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 85,22%. Nằm ở vị trí xung yếu thuộc thượng nguồn lưu vực sông Đà và sông Mã, hệ sinh thái rừng tại Mai Châu giữ vai trò sống còn trong việc điều tiết nguồn nước, chống xói mòn rửa trôi đất và bảo vệ các công trình thủy điện trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác kiệt và canh tác nương rẫy trong quá khứ đã làm biến đổi sâu sắc cấu trúc quần xã thực vật bản địa.

Nghiên cứu được triển khai nhằm phân tích toàn diện các đặc điểm cấu trúc tầng cây cao, đánh giá động thái tầng cây tái sinh của các trạng thái rừng phục hồi sau khai thác, cụ thể là trạng thái phục hồi sau khai thác kiệt và trạng thái phục hồi sau khai thác chọn tại Mai Châu. Thông qua việc lượng hóa các chỉ tiêu sinh trưởng và quy luật phân bố không gian, luận văn cung cấp cơ sở khoa học vững chắc nhằm đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp, hướng tới mục tiêu phục hồi trữ lượng, nâng cao chất lượng rừng nghèo kiệt và thúc đẩy quản lý tài nguyên rừng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết cấu trúc quần xã thực vật rừng nhiệt đới của Richards và Thái Văn Trừng. Cấu trúc rừng được định nghĩa là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên thảm thực vật theo không gian và thời gian, phản ánh mối quan hệ nội tại giữa các cá thể thực vật với nhau và với sinh cảnh sống. Đề tài vận dụng lý thuyết động thái diễn thế thứ sinh để giải thích quá trình phục hồi của lâm phần sau các hình thức tác động nhân vi khác nhau.

Hệ thống phân loại trạng thái rừng của Loeschau (1963) được sử dụng làm chuẩn mực phân chia đối tượng nghiên cứu, tập trung vào hai trạng thái điển hình: trạng thái phục hồi sau khai thác kiệt hoặc nương rẫy với tầng cây tiên phong có đường kính nhỏ, và trạng thái rừng thứ sinh sau khai thác chọn đã hình thành tầng ưu thế sinh thái. Tầm quan trọng sinh thái của từng loài cây gỗ trong quần xã được định lượng thông qua chỉ số giá trị quan trọng IV% do Curtis và McIntosh phát triển, kết hợp đồng thời ba biến số: tỷ lệ số cây, tỷ lệ tiết diện ngang và tần suất xuất hiện. Cấu trúc không gian mặt phẳng được phân tích theo lý thuyết khoảng cách cá thể lân cận của Clark và Evans nhằm xác định dạng phân bố ngẫu nhiên, phân bố cụm hay phân bố đều.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu điển hình tạm thời tại các khu rừng cộng đồng thuộc huyện Mai Châu. Hệ thống điều tra thực địa bao gồm 9 ô tiêu chuẩn sơ cấp, mỗi ô có diện tích 2.500 m2 (kích thước 50 m x 50 m) đại diện cho các trạng thái rừng phục hồi. Trong mỗi ô sơ cấp, tác giả thiết lập 25 ô thứ cấp diện tích 100 m2 (10 m x 10 m) để đo đếm toàn bộ cây tầng cao có đường kính ngang ngực từ 6 cm trở lên, xác định chiều cao vút ngọn, độ tàn che, đường kính tán và đánh giá phẩm chất cây theo ba cấp A, B, C. Đồng thời, 4 ô dạng bản diện tích 25 m2 (5 m x 5 m) được bố trí tại 4 góc ô sơ cấp để điều tra tầng cây tái sinh có đường kính dưới 6 cm về loài, chiều cao, nguồn gốc và chất lượng.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng điển hình được lựa chọn nhằm phản ánh chính xác tính chất vi khí hậu và mức độ xáo trộn cấu trúc của từng trạng thái rừng cụ thể. Dữ liệu thực địa được xử lý thống kê bằng phần mềm chuyên dụng Excel và SPSS. Các hàm phân bố toán học như hàm phân bố Meyer, phân bố khoảng cách và phân bố Weibull được ứng dụng để mô hình hóa quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính và cấp chiều cao. Mức độ phù hợp giữa phân bố thực nghiệm và phân bố lý thuyết được kiểm định chặt chẽ bằng tiêu chuẩn Chi-bình phương với độ tin cậy 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mật độ tầng cây cao ở trạng thái phục hồi sau khai thác kiệt dao động từ 811 đến 955 cây/ha, đường kính ngang ngực trung bình đạt 12,9 cm, chiều cao vút ngọn trung bình từ 9,8 đến 9,9 m, tổng tiết diện ngang từ 13,1 đến 15,2 m2/ha và trữ lượng gỗ đạt từ 74,4 đến 87,0 m3/ha. Trong khi đó, trạng thái phục hồi sau khai thác chọn có mật độ bình quân 900 cây/ha nhưng sở hữu các chỉ số sinh trưởng vượt trội với đường kính trung bình 14,5 cm, chiều cao trung bình 12,4 m, tiết diện ngang đạt 18,8 m2/ha và trữ lượng đạt 130,8 m3/ha, cao hơn trạng thái khai thác kiệt từ 50,3% đến 75,8%. Căn cứ theo Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT, các lâm phần sau khai thác kiệt thuộc cấp rừng nghèo, còn lâm phần sau khai thác chọn đạt tiêu chí rừng trung bình.

Về chất lượng lâm phần, tỷ lệ cây đạt phẩm chất A (thân thẳng, tán cân đối, không sâu bệnh) ở trạng thái khai thác chọn chiếm 31,1%, cao hơn đáng kể so với mức 22,8% - 23,1% ở trạng thái khai thác kiệt. Phần lớn cây gỗ trong lâm phần ở cả hai trạng thái đều đạt phẩm chất B với tỷ lệ dao động từ 47,5% đến 57,5%, trong khi cây phẩm chất C chiếm khoảng 19,4% đến 21,4%.

Đa dạng thành phần loài ghi nhận từ 57 đến 62 loài cây gỗ lớn cho mỗi trạng thái. Cấu trúc tổ thành ở trạng thái khai thác kiệt chủ yếu là các loài cây tiên phong ưa sáng như Chẹo tía, Sữa lá nhỏ, Thành ngạnh, Bưởi bung. Ngược lại, trạng thái khai thác chọn xuất hiện nhiều loài cây trung tính và chịu bóng có giá trị cao như Nanh chuột, Xoan đào, Trâm núi, Dẻ lỗ. Về cấu trúc tầng thứ, trạng thái khai thác chọn đã hình thành 3 tầng rõ rệt: tầng vượt tán (chiều cao 20,6 m, chiếm 7,42%), tầng tán chính (chiều cao 15,3 m, chiếm 38,81%) và tầng dưới tán (chiều cao 9,3 m, chiếm 53,77%). Trạng thái khai thác kiệt chưa có tầng vượt tán và có tới 91,36% - 92,71% số cây tập trung ở tầng dưới tán.

Mô phỏng phân bố số cây theo cấp đường kính cho thấy 66,7% số ô tiêu chuẩn tuân theo quy luật phân bố khoảng cách, tập trung chủ yếu ở cỡ kính dưới 18 cm, trong khi cỡ kính trên 34 cm chỉ còn từ 1 đến 4 cây/ô. Tầng cây tái sinh phát triển mạnh với mật độ dao động từ 5.845 đến 7.700 cây/ha, trong đó cây tái sinh triển vọng chiếm từ 43,0% đến 67,5% và trên 67,6% cá thể tái sinh có nguồn gốc từ hạt.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt rõ nét về mật độ, trữ lượng và cấu trúc tầng tán bắt nguồn từ lịch sử tác động lâm sinh. Việc khai thác kiệt đã loại bỏ hoàn toàn các cây gỗ lớn thành thục, phá vỡ liên kết tán rừng và tạo điều kiện cho các loài cây tiên phong mọc nhanh xâm lấn. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ phân bố tần số đường kính dạng giảm liên tục (đường cong chữ J lệch trái), phản ánh đặc trưng của quần xã rừng nhiệt đới đang trong giai đoạn phục hồi mạnh mẽ sau chấn động sinh thái. Biểu đồ mặt cắt đứng mô tả sự phân tầng cho thấy sự ứ đọng tán nghiêm trọng ở tầng dưới đối với trạng thái khai thác kiệt, gây cản trở quang hợp của lớp cây tái sinh ưa sáng.

So sánh với các công trình nghiên cứu tại vùng Kon Hà Nừng, Hương Sơn hay Vườn quốc gia Pù Mát, rừng phục hồi tại Mai Châu có mật độ cây tái sinh tương đối dồi dào nhưng phân bố không gian chủ yếu ở dạng cụm do chỉ số U của Clark và Evans đều nhỏ hơn -1,96. Hiện tượng này khẳng định rừng chưa đạt tới trạng thái ổn định đỉnh cực, đòi hỏi các can thiệp lâm sinh có định hướng để phân bố lại không gian dinh dưỡng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện biện pháp tỉa thưa nuôi dưỡng và điều chỉnh mật độ tầng cây cao. Đơn vị quản lý cần loại bỏ các cây sâu bệnh, phẩm chất C hiện chiếm khoảng 19,4% - 21,4% trong lâm phần, đồng thời mở tán cục bộ đối với những ô tiêu chuẩn có mật độ dày trên 950 cây/ha. Mục tiêu là điều chỉnh chỉ số phân bố không gian từ dạng phân bố cụm sang dạng phân bố ngẫu nhiên hoặc cách đều, hoàn thành trong giai đoạn 2026-2028 dưới sự giám sát của Hạt Kiểm lâm Mai Châu.

Thứ hai, đẩy mạnh các biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp làm giàu rừng. Ban Quản lý rừng phòng hộ phối hợp cùng các cộng đồng thôn bản tiến hành phát dọn dây leo, cây bụi lấn át và mở các lỗ trống có diện tích khoảng 500 m2 quanh các cây mẹ gieo giống tốt. Giải pháp này nhằm nâng tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng từ mức 43,0% lên trên 70% trong vòng 3 năm tới.

Thứ ba, thực hiện trồng bổ sung các loài cây bản địa có giá trị kinh tế và phòng hộ cao. Tập trung đưa các loài cây gỗ lớn như Xoan đào, Dẻ lỗ, Giổi bà, Trám trắng vào các trạng thái rừng nghèo kiệt với mật độ trồng dặm từ 300 đến 500 cây/ha. Kế hoạch hành động đặt mục tiêu nâng trữ lượng bình quân của trạng thái rừng nghèo từ 74,4 m3/ha lên trên 100 m3/ha vào năm 2030.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế quản lý rừng dựa vào cộng đồng và thiết lập hệ sinh thái giám sát bền vững. Chính quyền địa phương huyện Mai Châu cần phân bổ ngân sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tổ chức tuần tra bảo vệ rừng định kỳ 2 tuần/lần, kết hợp tập huấn kỹ thuật lâm sinh cho 100% các hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng đầu nguồn sông Đà.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng kiểm lâm: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình, Sở Nông nghiệp và Môi trường có thể ứng dụng các số liệu thực địa về mật độ, trữ lượng và quy luật phân tầng để quy hoạch phân định ranh giới rừng nghèo, xây dựng phương án giao khoán và thiết kế kế hoạch điều chế rừng tự nhiên hàng năm.

Ban quản lý rừng phòng hộ và các công ty lâm nghiệp: Sử dụng trực tiếp quy trình tỉa thưa, kỹ thuật tạo ô trống xúc tiến tái sinh 500 m2 và định mức trồng bổ sung loài bản địa nhằm phục hồi chức năng phòng hộ đầu nguồn lưu vực sông Đà và sông Mã.

Nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác về ứng dụng hàm phân bố khoảng cách, tiêu chuẩn Clark và Evans cùng kỹ thuật phân tích chỉ số giá trị quan trọng IV% trong nghiên cứu sinh thái học thực nghiệm.

Cộng đồng địa phương và các tổ chức phát triển nông thôn: Nắm bắt các loài cây có giá trị kinh tế như Xoan đào, Dẻ, Chẹo tía để kết hợp bảo vệ rừng với khai thác lâm sản ngoài gỗ hợp lý, gia tăng sinh kế dưới tán rừng phục hồi.

Câu hỏi thường gặp

Đặc điểm cấu trúc nổi bật nhất của trạng thái rừng phục hồi sau khai thác kiệt tại Mai Châu là gì? Rừng sau khai thác kiệt có mật độ từ 811 đến 955 cây/ha, trữ lượng thấp đạt 74,4 - 87,0 m3/ha và chưa hình thành tầng vượt tán. Hơn 91% số cây tập trung ở tầng dưới tán với các loài tiên phong ưa sáng chiếm ưu thế như Chẹo tía, Sữa lá nhỏ, Bưởi bung.

Tại sao hàm phân bố khoảng cách lại phù hợp hơn hàm Meyer khi mô phỏng cấu trúc đường kính tại khu vực này? Kết quả kiểm định Chi-bình phương với độ tin cậy 95% cho thấy 66,7% số ô tiêu chuẩn phù hợp với hàm khoảng cách, trong khi hàm Meyer chỉ đạt 33,3%. Nguyên nhân là do rừng bị khai thác mạnh, cây tập trung dày đặc ở cỡ kính dưới 18 cm và giảm đột ngột ở các cỡ kính lớn.

Tầng cây tái sinh dưới tán rừng tại Mai Châu có khả năng tự phục hồi thành rừng giàu không? Hoàn toàn có khả năng do mật độ cây tái sinh đạt mức rất cao từ 5.845 đến 7.700 cây/ha, trong đó tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng chiếm 43,0% - 67,5% và phần lớn xuất sinh từ hạt (trên 67,6%), bảo đảm nguồn gen khỏe mạnh cho thế hệ cây rừng kế cận.

Chỉ số U của Clark và Evans phản ánh điều gì về cấu trúc không gian rừng Mai Châu? Hầu hết các ô tiêu chuẩn có giá trị U nhỏ hơn -1,96, chứng minh cây rừng đang phân bố theo dạng cụm. Dạng phân bố này phản ánh tính chất chưa ổn định của quần xã đang trong quá trình tái sinh lấp các khoảng trống sau khai thác.

Căn cứ khoa học nào để xếp các trạng thái rừng nghiên cứu vào cấp rừng nghèo và rừng trung bình? Theo quy định tại Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT, trạng thái sau khai thác kiệt có trữ lượng từ 74,4 đến 87,0 m3/ha nên thuộc cấp rừng nghèo (trữ lượng dưới 100 m3/ha), còn trạng thái sau khai thác chọn đạt 130,8 m3/ha nên được xếp vào cấp rừng trung bình (từ 100 đến 200 m3/ha).

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa toàn diện các chỉ số cấu trúc của rừng phục hồi tại Mai Châu với mật độ 811 - 955 cây/ha, trữ lượng 74,4 - 87,0 m3/ha ở trạng thái sau khai thác kiệt và 900 cây/ha, 130,8 m3/ha ở trạng thái sau khai thác chọn.
  • Chứng minh tính ưu việt của mô hình phân bố khoảng cách với 66,7% độ tương thích thực nghiệm so với mô hình Meyer trong điều kiện lâm phần bị xáo trộn mạnh.
  • Xác định rõ sự khác biệt về tầng thứ: trạng thái khai thác chọn có 3 tầng tán hoàn chỉnh, trong khi trạng thái khai thác kiệt bị ứ đọng với hơn 91% số cây ở tầng dưới tán.
  • Khẳng định tiềm năng phục hồi tự nhiên dồi dào nhờ tầng cây tái sinh đạt mật độ 5.845 - 7.700 cây/ha với tỷ lệ cây triển vọng lên tới 67,5%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh có tính ứng dụng cao, bao gồm tỉa thưa cây sâu bệnh phẩm chất C, xúc tiến tái sinh mở tán 500 m2 và trồng dặm loài cây bản địa.

Lộ trình triển khai các giải pháp lâm sinh cần được thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2026 - 2030 nhằm phục hồi tối ưu cấu trúc đa tầng, biến các lâm phần nghèo kiệt thành những khu rừng phòng hộ đầu nguồn vững chắc cho lưu vực sông Đà và sông Mã. Các cấp quản lý và cộng đồng địa phương hãy cùng chung tay áp dụng tiến bộ kỹ thuật để bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng Mai Châu.