Chương I hệ thống hóa lý luận về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: Các khái niệm, các tiêu chí đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nên có nhiều khái niệm khác nhau: Theo định nghĩa của Liên hợp quốc: "Nguồn nhân lực là trình độ kỹ năng, kiến thức và khả năng của toàn bộ cuộc sống con người, sự phát triển kinh tế - xã hội thực tế hoặc tiềm năng." [39] và theo định nghĩa, cách hiểu về nguồn nhân lực khá rộng, bao gồm những cá nhân có đủ điều kiện nhưng không tham gia lao động.
Nguồn nhân lực là nhân lực con người của một tổ chức (với các quy mô, loại hình và chức năng khác nhau) có thể và có khả năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của tổ chức. Quốc gia, khu vực, thế giới. Theo các tác giả Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh: “Nguồn nhân lực được nghiên cứu ở khía cạnh số lượng và chất lượng, số lượng nguồn nhân lực thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng trưởng hàng năm của nguồn nhân lực, nguồn lực thể hiện thành phần nguồn nhân lực bên trong. Mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, thể hiện bằng các tiêu chí: sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn / kỹ năng…”[4] Từ những khái niệm trên, trong phạm vi luận văn này có thể rút ra một khái niệm chung về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là tất cả những tiềm năng của con người trong một tổ chức, xã hội, kiến thức, năng lực, hành vi và các giá trị đạo đức để xây dựng, duy trì và phát triển tổ chức của mình.
Vai trò của nguồn nhân lực Doanh nghiệp muốn hoạt động và phát triển ổn định thì phải có sự đóng góp của nhiều nguồn lực khác nhau như tài chính, vật tư, công nghệ… Trong đó nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự thành bại của một tổ chức. Vai trò của nguồn nhân lực bắt nguồn từ vai trò của yếu tố con người. Sau đây là một số vai trò cơ bản của nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực giúp đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong một tổ chức Chỉ có con người mới là người tạo ra hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ. Đồng thời, con người là yếu tố duy nhất có thể kiểm tra quá trình sản xuất kinh doanh.
Mặc dù thiết bị, tài sản hay nguồn lực tài chính được coi là những nguồn lực mà mọi tổ chức phải có. Nhưng nguồn nhân lực được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng. Bởi vì nếu không có nguồn nhân lực hiệu quả, một tổ chức sẽ không đạt được các mục tiêu đã đề ra. Nguồn nhân lực là một nguồn lực mang tính chiến lược Vai trò của các yếu tố liên quan đến công nghệ, vốn và nguyên liệu ngày càng giảm dần đối với điều kiện xã hội đang chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.
Bên cạnh đó, yếu tố tri thức con người ngày càng được chú trọng, chiếm vị trí quan trọng trong doanh nghiệp. Đặc biệt là nguồn nhân lực với hoạt động năng động, linh hoạt, sáng tạo và con người ngày càng trở nên quan trọng hơn. Nguồn nhân lực là một nguồn lực vô tận Khi xã hội ngày càng tiến bộ, doanh nghiệp ngày càng phát triển thì nguồn nhân lực là không thể cạn kiệt. Nếu biết sử dụng hợp lý nguồn nhân lực này sẽ góp phần tạo ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội.
Đồng thời sẽ giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Nguồn nhân lực ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội Nhân tố con người không chỉ là mục tiêu của sự phát triển, động lực của sự phát triển mà còn là yếu tố tạo điều kiện để con người tự hoàn thiện. Ở mỗi giai đoạn phát triển của con người sẽ nâng cao sức mạnh thống trị tự nhiên và nâng cao động lực phát triển kinh tế, xã hội. 8 Tiềm lực kinh tế của một quốc gia phần lớn phụ thuộc vào trình độ khoa học và công nghệ của quốc gia đó.
Nhưng trình độ công nghệ phụ thuộc nhiều vào điều kiện giáo dục. Nếu một quốc gia áp dụng công nghệ tiên tiến nhập khẩu khi tiềm lực khoa học và công nghệ trong nước còn rất yếu thì rất nhiều trường hợp thất bại. Sự yếu kém này thể hiện ở việc thiếu các chuyên gia giỏi về khoa học, công nghệ và quản lý, thiếu cán bộ và công nhân lành nghề tại các làng nghề. Điều này không áp dụng công nghệ mới.
Khi đó, sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ươm mầm nguồn nhân lực quý giá cho các nước phát triển, hoặc chấp nhận tụt hậu so với các nước khác. Chất lượng nguồn nhân lực Theo Giáo trình Nguồn nhân lực của Trường Đại học Lao động - Xã hội, “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm nguồn nhân lực tổng hợp được biểu hiện trên các mặt: sức khoẻ người lao động, trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật, khả năng thực hành. Kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, Sức sống xã hội (bao gồm tính sáng tạo, linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc .), phẩm chất, đạo đức, tác phong, thái độ làm việc, môi trường làm việc, hiệu quả lao động của nguồn nhân lực và thu nhập, mức sống và sự thỏa mãn các nhu cầu cá nhân (bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của công nhân”. [7] Chất lượng nguồn nhân lực doanh nghiệp thể hiện ở cấu thành sức lao động.
Tuy nhiên, trong một doanh nghiệp, chất lượng lao động được đánh giá bằng mối quan hệ giữa hao phí lao động và hiệu quả lao động. Thực tế luôn cho thấy, chất lượng của toàn bộ đội ngũ cán bộ công nhân viên hoạt động của doanh nghiệp được nâng lên đến đâu thì hoạt động của doanh nghiệp trôi chảy đến đó; chất lượng, chi phí đầu vào khác cao thấp đến đó; chất lượng sản phẩm trung gian, khả năng cạnh tranh của sản phẩm đầu ra… Trình độ chất lượng của đội ngũ nhân viên doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào trình độ quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp. 9 Với luận văn này quan niệm, chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng khả năng lao động của người lao động về thể chất và tinh thần đối với yêu cầu công việc, cụ thể là nhằm đạt được mục tiêu chung. Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 1.
Thể lực (Trạng thái sức khỏe) Thể lực của nguồn nhân lực thể hiện ở sức khoẻ của người lao động. Theo khái niệm của WHO thì sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về các mặt của con người như thể chất, tinh thần chứ không chỉ đơn thuần là trạng thái ốm đau hay bệnh tật. Theo nhà vật lý học người Đức Philippus Paracelsus thế kỷ 15, được coi là cha đẻ của y học hiện đại, trí óc là chủ, trí tưởng tượng là công cụ, và cơ thể là vật chất linh hoạt. Sức khỏe là sự phát triển hài hòa giữa tinh thần và thể chất của con người hay còn gọi là sức khỏe cơ thể (thể chất) và tinh thần.
Thể lực là sức bền, thể hiện khả năng mang vác, di chuyển của tứ chi. Sức khỏe tinh thần là sự linh hoạt của hoạt động thần kinh, khả năng di chuyển suy nghĩ và biến chúng thành hành động. Sức khỏe của con người được đánh giá qua nhiều tiêu chí của con người như: cân nặng, chiều cao, ngoại khoa, nội khoa, thần kinh, tai mũi họng… Bộ Y tế ra Quyết định số 1613/BYT-QĐ ngày 15/8/1997, theo 13 mục Chỉ số sức khỏe chia sức khỏe thành 5 loại, bao gồm: -Thể lực chung -Mắt -Tai mũi họng -Răng hàm mặt -Tâm thần - Thần kinh -Tuần hoàn -Hô hấp -Tiêu hóa -Tiết niệu – Sinh dục 10 -Hệ vận động -Ngoài da – Hoa liễu -Nội tiết - Chuyển hóa -U các loại Dựa vào các chỉ số trên, phân loại sức khỏe như sau: -Loại I: Cả 13 chỉ số đều đạt loại I - Loại II: Chỉ có 1 chỉ số, thấp nhất là loại II, mức II. -Loại III: Chỉ yêu cầu 1 chỉ số, tối thiểu là loại III, mức III.
- Loại IV: Chỉ có 1 chỉ số thấp như loại IV, hạng IV. -Loại V: chỉ cần có 1 chỉ số, tối thiểu là loại V, xếp loại V. Ngoài ra, đối với từng lĩnh vực công việc, nghề nghiệp cụ thể sẽ có những yêu cầu về thể chất và sức khỏe khác nhau. Thể chất: Thường được thể hiện là thể lực và tinh thần thoải mái.
Bạn càng sảng khoái và thoải mái, bạn càng chứng tỏ rằng bạn là một người khỏe mạnh. Cơ sở của khoái cảm và sự thoải mái về thể chất là: sức mạnh, sự nhanh nhẹn, sức chịu đựng, khả năng chống lại các yếu tố gây bệnh, khả năng chống chọi với các điều kiện môi trường khắc nghiệt. Sức khỏe Tinh thần: Thể hiện sự hoàn thiện về mặt xã hội, tình cảm và tinh thần. Thể hiện ở tâm trạng sảng khoái, vui vẻ, bình tĩnh vui vẻ, suy nghĩ lạc quan, yêu đời, năng động, bản lĩnh, chủ động nhìn nhận cuộc sống; khả năng chống bi quan, lối sống thiếu lành mạnh.
Sức khỏe tinh thần của một người đánh giá qua lối sống lành mạnh, phẩm chất đạo đức và sống có văn minh. Cơ sở của sức mạnh tinh thần là sự cân bằng, hài hòa của lý trí và tình cảm trong các hoạt động tinh thần. Sức khỏe xã hội: Sức khỏe xã hội biểu hiện bằng sự thoải mái trong các mối quan hệ phức tạp và đan xen giữa các thành viên trong gia đình, trường học, bạn bè, làng xóm, nơi công cộng, văn phòng. Nó được thể hiện ở sự công nhận và chấp nhận của xã hội.
Người nào càng hòa nhập với mọi người thì càng nhận được sự cảm thông, yêu thương, sức khỏe xã hội càng tốt và ngược lại. Sức khỏe xã hội dựa trên sự cân bằng giữa hoạt động và lợi ích của cá nhân với hoạt động và lợi ích của xã hội và của 11 người khác; nó là sự hòa nhập của cá nhân, gia đình và xã hội. Bộ Y tế quy định việc phân loại sức khỏe theo thể lực như sau: Bảng 1.