CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Nguồn nhân lực Khi nhắc đến sự phát triển của một quốc gia thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, con người… Trong các nguồn lực đó thì con người là nguồn lực quan trọng nhất và quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một quốc gia cho dù có phong phú, giàu có về tài nguyên thiên, máy móc kĩ thuật hiện đại nhưng nguồn lực về con người lại hạn chế về trình độ, không đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về NNL như: Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đối với NNL đã đưa ra định nghĩa: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” (World Bank 2000, tr. Quan niệm về NNL theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của NNL. Điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng. Theo GS, Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Phạm Minh Hạc 2001, tr.
Theo đó, nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Như vậy, NNL không chỉ bao hàm chất lượng NNL hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai. 9 Cách hiểu này xuất phát từ quan niệm coi NNL là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho tổ chức nói chung. Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội.
Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của NNL thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người.
Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn.” (Nguyễn Hữu Dũng 2003, tr. Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân in năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” (Trần Xuân Cầu – Mai Quốc Chánh 2008, tr. “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” (Trần Xuân Cầu – Mai Quốc Chánh 2008, tr.
Theo Giáo trình Nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động – Xã hội in năm 2005 thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” (Nguyễn Tiệp 2005, tr 23). Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động”. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội.
10 Từ các quan điểm trên, NNL nên được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức LĐ cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng LĐ của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi LĐ, có khả năng tham gia vào LĐ, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình LĐ, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình LĐ. Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả tập trung vào NNL trong tổ chức, DN cho nên khái niệm về NNL có thể được khái quát như sau: “NNL là những người LĐ trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định, bao gồm tổng thể các yếu tố về: thể lực, tâm lực, trí lực của mỗi cá nhân được vận dụng vào trong công việc giúp đảm bảo sự thành công cho những mục tiêu đã đặt ra của doanh nghiệp”.
Chất lượng nguồn nhân lực “Chất lượng nguồn nhân lực” là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá NNL. Do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, cho nên có rất nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn luận về khái niệm “chất lượng nguồn nhân lực”.TS Phùng Rân, chất lượng NNL được đánh giá qua hai tiêu chí: “năng lực hoạt động của NNL và phẩm chất đạo đức của NNL đó (Phùng Rân 2008, tr2). Năng lực hoạt động có được thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc được đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và kỹ năng giải quyết công việc. Phẩm chất đạo đức của NNL được biểu hiện qua thái độ, ý thức, phong cách làm việc, quan hệ LĐ, văn hóa DN,… và được hiểu là tâm lực LĐ, nhưng đây là tiêu chí khó có thể đo lường được bởi nó chịu chi phối ở bên trong bản thân mỗi cá nhân.
Mai Quốc Chánh thì: “Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất” (Mai Quốc Chánh 2000, tr. Theo quan điểm này, việc đánh 11 giá chất lượng NNL được tác giả “xem xét trên các mặt” chứ không được xem xét” và có thể có mặt “không được xem xét” đến. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thị Ngọc Phùng thì: “Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ” (Vũ Thị Ngọc Phùng 2006, tr. Theo quan điểm này thì chất lượng NNL được đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực).
Các tiêu chí này được định lượng hóa bằng các cấp bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn mà có và có thể đo lường được tương đối dễ dàng. Chất lượng NNL là một trạng thái của NNL, biểu hiện qua mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành bao gồm: - Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của sự chăm sóc sức khỏe, rèn luyện, mức sống của từng cá nhân cụ thể. Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội. - Trí lực được xác định bởi trình độ kiến thức chuyên môn, tri thức chung về khoa học, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy, sáng tạo của mỗi cá nhân trong công việc hoặc tình huống cụ thể.
Nó được hình thành trong quá trình giáo dục đào tạo và được tích lũy trong quá trình làm việc. - Tâm lực (đạo đức, phẩm chất) là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của NNL bao gồm toàn bộ tập quán phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng, đạo đức và nghệ thuật,… gắn liền với truyền thống văn hóa. Chất lượng NNL trong DN được biểu hiện ở hiệu quả của quá trình lao động do người LĐ đó thực hiện. Trong quá trình này, người LĐ thường thực hiện hai chức năng chủ yếu: một mặt thực hiện những hoạt động theo quy trình có sẵn nhờ những kỹ năng, kỹ xảo đã tích lũy được hoặc học tập được qua đào tạo và trong quá trình làm việc để sản xuất ra những sản phẩm theo khuôn mẫu có sẵn được thiết kế từ đầu; mặt khác đồng thời thực hiện chức năng sáng tạo ra các sản phẩm mới, công nghệ mới không dập theo khuôn mẫu định trước.
12 Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì chất lượng NNL trong DN là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được phản ánh và đánh giá thông qua các tiêu chí: thể lực, trí lực, tâm lực. Cụ thể: - Thể lực được xác định bởi thể chất và tình trạng sức khỏe của người LĐ. - Trí lực được xác định bởi trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, thâm niên làm việc, kỹ năng làm việc và khả năng tư duy sáng tạo của người LĐ. - Tâm lực hay thái độ trong công việc được xác định thông qua ý thức, tác phong trong quá trình làm việc, khả năng chịu áp lực đối với công việc được giao, trạng thái và cảm xúc của người LĐ trong công việc.