Chương 1 ơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. hương 2 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại ông t Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác điểm đỗ xe Hà Nội. hương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ông t Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác điểm đỗ xe Hà Nội. Luan van 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1.
Một số khái niệm liên quan 1. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm nguồn nhân lực Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển tinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học – công nghệ, con người… Trong các nguồn lực đó th nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một nước cho dù tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng hông có những con người có tr nh độ, có đủ khả năng hai thác các nguồn lực đó th hó có hả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: “Nguồn nhân lực là tr nh độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [5, tr. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Nguồn nhân lực của một gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động [24]. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển b nh thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá tr nh lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động [14, tr. Luan van 10 Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế chính trị ta có thể hiểu: “Nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó ết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lại của đất nước” [2, tr. Nguồn nhân lực được xem xét và đánh giá theo hai góc độ là số lượng và chất lượng.
Về số lượng: Số lượng NNL được tính bằng tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng. Nhưng đối với doanh nghiệp thì nguồn nhân lực không bao gồm những người trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính những người trong độ tuổi lao động của toàn doanh nghiệp. Về chất lượng: NNL được biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc. -Tùy theo cách tiếp cận nghiên cứu nguồn nhân lực có thể được chia thành nhiều loại: - ăn cứ vào vai trò, vị trí của người lao động, NNL được phân thành 3 loại: +Nguồn nhân lực chính: bao gồm những người lao động nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động + Nguồn nhân lực phụ: bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động.
Trong số này lại phân thành nguồn nhân lực phụ trên tuổi (nam từ 61đến 65 tuổi, nữ từ 56 đến 60 tuổi) và nguồn nhân lực phụ dưới tuổi (tuổi từ 12 đến 14) +Nguồn nhân lực bổ sung: dựa vào 3 nguồn chính là lực lượng quân đội hết nghĩa vụ, lực lượng hợp tác lao động với nước ngoài, học sinh, sinh viên. - Dưới góc độ phạm vi của tổ chức người ta phân thành 2 loại là nguồn nhân lực xã hội và nguồn nhân lực trong doanh nghiệp: Luan van 11 + Nguồn nhân lực xã hội:Tuỳ theo từng giác độ nghiên cứu để người ta phân loại nguồn nhân lực. Căn cứ vào sự hình thành nguồn nhân lực th nó được phân thành 3 loại: + Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số (dân số hoạt động): bao gồm số người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. + Nguồn nhân lực trong hoạt động kinh tế (dân số hoạt động kinh tế): bao gồm những người thuộc nguồn nhân lực sẵn có trong dân số hiện đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và một bộ phận tuy chưa có việc nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
+ Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những người cũng trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng vì những lý do khác nhau mà họ không tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế (ví dụ như sinh viên mới tốt nghiệp; phụ nữ sinh con; bộ đội xuất ngũ;. + Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp: là tất cả mọi cá nhân tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp. Nó được coi là một tài nguyên quý báu nhất của doanh nghiệp [19, tr. - Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được phân loại theo nhiều cách hác nhau tuỳ theo từng mục đích nghiên cứu, cụ thể là: - Căn cứ vào chức năng công việc đảm nhiệm, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được phân loại như sau: + Theo chức năng sản xuất, chế biến thì có: nhân công trực tiếp (là những lao động tham gia trực tiếp vào quá tr nh chế tạo sản phẩm) và nhân công gián tiếp (là những nhân công phục vụ cho những nhân công trực tiếp hoặc chỉ tham gia một cách gián tiếp vào quá tr nh sản xuất).
+ Theo chức năng lưu thông, tiếp thị bao gồm bộ phận bán hàng, tiêu thụ sản phẩm và nghiên cứu thị trường. + Theo chức năng quản lý hành chính: đây là bộ phận nhân công tham gia vào quá tr nh quản lý, điều hành doanh nghiệp. Luan van 12 Ngoài ra còn có những cách phân loại hác tuỳ theo yêu cầu của quản lý như: phân loại lao động theo năng lực, theo tr nh độ chuyên môn,. Khái niệm nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo Giáo trình Quản trị nhân lực do Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân làm chủ biên th : “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [18, tr.
Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực. Do đó, nguồn nhân lực của một tổ chức hay doanh nghiệp trước hết bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là khả năng hay nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực, trí lực và tâm lực. Theo tác giả Lê Thị Mỹ Linh (2009): “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp” [13, tr. Khái niệm này đã chỉ ra được sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong tổ chức khi họ được động viên, khuyến khích kịp thời.
Nói về nguồn nhân lực, Đảng ta xác định: “Nguồn lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại” [7, tr. Còn trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực th định nghĩa: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người” [5, tr. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực. Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con Luan van 13 người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng.
Và trong cuốn Quản trị nguồn nhân lực (Hurman resourses management) của tác giả George T.Milkovich and John W.Boudreau (2006) thì nguồn nhân lực lại được hiểu như sau: “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức” [25, tr. Từ những khái niệm trên, theo tác giả Luận văn: nguồn nhân lực (NNL) là toàn bộ các khả năng về thể lực, trí lực và phẩm chất (hay tâm lực) của con người được vận dụng trong quá tr nh lao động, sản xuất, bảo đảm cho sự thành công và đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như đang và sẽ sẵn sàng tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực của tổ chức hay doanh nghiệp là bao gồm tất cả nguồn lực của các cá nhân trong tổ chức hay những cá nhân có tham gia bất cứ hoạt động nào, với bất cứ vai trò g trong tổ chức, doanh nghiệp. Nghĩa là tất cả các thành viên mà DN đang quản lý, sử dụng mang tính ổn định và lâu dài, kể cả những người trong và ngoài doanh nghiệp nhưng có tham gia vào hoạt động hay tham gia giải quyết những vấn đề của doanh nghiệp trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Chất lượng nguồn nhân lực Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, thì yếu tố lao động có chất lượng cao đóng vai trò hết sức quan trọng. Khai thác, sử dụng và phát huy tối đa trí tuệ, năng lực tr nh độ lành nghề và kinh nghiệm công tác của lực lượng lao động này sẽ là yếu tố quyết định thành công của chiến lược đó.