Tổng quan nghiên cứu

Huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi sở hữu vị trí địa chính trị quan trọng tại cửa ngõ phía Nam thành phố Quảng Ngãi với diện tích tự nhiên 20.550,68 ha, quy mô dân số đạt 130.519 người và mật độ dân số 631,37 người/km². Toàn huyện được tổ chức thành 14 đơn vị hành chính cấp xã gồm 12 xã và 2 thị trấn, phân bố trên 82 thôn và tổ dân phố. Trong giai đoạn 2015 - 2020, kinh tế địa phương đạt mức tăng trưởng ấn tượng với thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 43 triệu đồng/người/năm, đồng thời chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế với tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm 48,5%, thương mại và dịch vụ chiếm 39,4%, nông lâm thủy sản chiếm 12,1%.

Tuy nhiên, bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình xây dựng nông thôn mới đặt ra áp lực lớn đối với tổ chức bộ máy cơ sở. Thực tiễn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: năng lực lãnh đạo ở một số tổ chức cơ sở Đảng chưa tương xứng với yêu cầu; hiệu lực giám sát của Hội đồng nhân dân còn mang tính hình thức; công tác cải cách thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân cấp xã còn chậm trễ; vai trò tập hợp quần chúng của Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể chính trị - xã hội đôi lúc chưa sâu sát.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng vận hành của hệ thống chính trị cơ sở tại huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2015 - 2020, từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giai đoạn 2021 - 2025 và tầm nhìn 2030. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi hệ thống hóa cơ sở lý luận về khoa học chính trị địa phương, đồng thời cung cấp những luận cứ thực tiễn giá trị nhằm nâng cao chỉ số năng lực quản trị công, củng cố niềm tin của hơn 130.000 người dân vào sự lãnh đạo của Đảng và bộ máy chính quyền cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém.

Về mặt thể chế và pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào Điều 113 và Điều 114 Hiến pháp năm 2013 quy định chức năng, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn; Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị về quy chế giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Khung khái niệm trọng tâm bao gồm 4 cấu phần chính:

  • Hệ thống chính trị cơ sở: Chỉnh thể các thiết chế gồm tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã.
  • Năng lực lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở: Khả năng ban hành nghị quyết sát thực tiễn, tổ chức thực hiện, quản lý đảng viên và củng cố khối đại đoàn kết.
  • Hiệu lực quản lý nhà nước: Năng lực điều hành hành chính, thực thi pháp luật và cung ứng dịch vụ công của chính quyền cấp xã.
  • Quyền làm chủ của nhân dân: Cơ chế thực thi dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua quy chế dân chủ ở cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận cấu trúc - chức năng kết hợp phân tích hệ thống nhằm đánh giá mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn diện 14 đơn vị hành chính cấp xã, 59 tổ chức cơ sở Đảng, 189 chi bộ trực thuộc và toàn bộ 276 cán bộ, công chức cấp cơ sở trên địa bàn huyện Tư Nghĩa.

Phương pháp chọn mẫu khảo sát được thực hiện theo nguyên tắc chọn mẫu tổng thể kết hợp chọn mẫu điển hình tại các xã trọng điểm về nông nghiệp, công nghiệp và đồng bào dân tộc thiểu số như Nghĩa Kỳ, Nghĩa Điền, Nghĩa Thắng, Nghĩa Sơn. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2015 - 2020 của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Tư Nghĩa và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Nguồn dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua các cuộc đối thoại trực tiếp và biên bản tiếp xúc cử tri.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh đối chiếu là nhằm đảm bảo tính khách quan, đo lường chính xác sự chuyển dịch giữa các chỉ số chất lượng đội ngũ cán bộ, hiệu quả xử lý đơn thư khiếu nại và mức độ hài lòng của người dân trong suốt lộ trình nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về công tác xây dựng Đảng và phát triển đội ngũ đảng viên, toàn Đảng bộ huyện Tư Nghĩa có 59 tổ chức cơ sở Đảng với 189 chi bộ trực thuộc. Tỷ lệ cán bộ, đảng viên tham gia học tập các chỉ thị, nghị quyết đạt trên 96%. Trong giai đoạn 2015 đến tháng 6/2019, toàn huyện đã kết nạp 566 đảng viên mới, trong đó đoàn viên thanh niên chiếm 326 đồng chí (57,6%), nữ giới chiếm 331 đồng chí (58,5%), và đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 18 đồng chí. Đáng chú ý, trình độ chuyên môn của đảng viên mới tăng rõ rệt khi có tới 362 đồng chí sở hữu bằng cao đẳng, đại học, chiếm tỷ lệ 63,96%.

Thứ hai, về chất lượng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã, toàn huyện có 276 cán bộ, công chức làm việc tại 14 xã và thị trấn. Tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên đạt 98,19% (271 người); trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên đạt 82,97% (229 người); chứng chỉ tin học đạt 98,56% (272 người) và chứng chỉ ngoại ngữ đạt 97,83% (270 người). Tuy nhiên, số lượng cán bộ đạt chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên trở lên mới chỉ đạt 38 người, chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn là 21,59%.

Thứ ba, về hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, trong nhiệm kỳ 2016 - 2021, Hội đồng nhân dân các xã và thị trấn đã tổ chức 159 kỳ họp (150 kỳ họp thường lệ, 9 kỳ họp chuyên đề), tiến hành 294 cuộc giám sát chuyên đề và tiếp nhận 33 đơn thư khiếu nại, tố cáo từ công dân. Hoạt động tiếp xúc cử tri được duy trì định kỳ 2 lần/năm tại các nhà văn hóa thôn.

Thứ tư, về vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong phong trào xây dựng nông thôn mới, Mặt trận cơ sở đã chủ trì 112 cuộc giám sát và 62 hội nghị phản biện xã hội. Đến năm 2018, nhân dân 13 xã đã đóng góp 680.000 ngày công, hiến 15.368 m² đất làm đường giao thông và đóng góp 113 tỷ đồng. Quỹ Vì người nghèo vận động được 2,5 tỷ đồng, hỗ trợ xây mới 78 nhà Đại đoàn kết và xây sửa 39 mái ấm tình thương cho phụ nữ nghèo, góp phần đưa huyện Tư Nghĩa về đích nông thôn mới vào năm 2020.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự tương phản rõ rệt giữa trình độ học vấn lý thuyết và kỹ năng quản lý nhà nước thực tế của đội ngũ cán bộ cơ sở. Khi trình bày dữ liệu qua biểu đồ cột so sánh, sự chênh lệch giữa tỷ lệ chuẩn hóa chuyên môn (98,19%) và tỷ lệ chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên (21,59%) thể hiện rõ rào cản lớn nhất trong năng lực tham mưu và thực thi công vụ. Tình trạng này giải thích nguyên nhân các thủ tục hành chính về đất đai tại xã Nghĩa Điền hay xử lý điểm nóng môi trường tại bãi rác Nghĩa Kỳ thường kéo dài.

Bên cạnh đó, việc lập bảng ma trận đối chiếu giữa 294 cuộc giám sát của Hội đồng nhân dân với tỷ lệ giải quyết triệt để các kiến nghị sau giám sát cho thấy hiệu lực giám sát chưa đi liền với chế tài xử lý trách nhiệm người đứng đầu. Mô hình tiếp xúc cử tri và đối thoại trực tiếp của Bí thư Đảng ủy với 228 lượt tiếp xúc tại 79 thôn là điểm sáng nổi bật, giải quyết nhanh các xung đột xã hội ngay từ cơ sở. Những phát hiện này hoàn toàn phù hợp với các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, khẳng định dân chủ cơ sở là chìa khóa tháo gỡ mọi rào cản quản trị địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở. Huyện ủy và Đảng ủy 14 xã, thị trấn cần duy trì nghiêm nền nếp sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư, bảo đảm 100% chi bộ sinh hoạt định kỳ đúng quy định. Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trẻ và đảng viên nữ, phấn đấu mỗi năm kết nạp từ 110 đến 130 đảng viên mới, trong đó trên 65% có trình độ đại học. Thời gian triển khai thực hiện liên tục trong cả giai đoạn 2021 - 2025.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng công vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã. Ủy ban nhân dân huyện Tư Nghĩa phối hợp cùng Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ngãi tổ chức các khóa bồi dưỡng quản trị công, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ cán bộ công chức có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên từ 21,59% lên trên 60% vào năm 2023 và đạt 85% vào năm 2025. Hoàn thiện hệ thống một cửa điện tử tại 14/14 xã, thị trấn nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ hành chính xuống dưới 2 ngày làm việc đối với các thủ tục phổ biến.

Thứ ba, nâng cao hiệu lực quyết định và giám sát của Hội đồng nhân dân xã. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã cần tăng cường chất lượng các kỳ họp, dành tối thiểu 40% thời lượng kỳ họp cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn theo nhóm vấn đề nổi cộm. Mỗi năm tổ chức ít nhất 2 cuộc giám sát chuyên đề sâu về quản lý đất đai và đầu tư công, đồng thời ban hành quy trình theo dõi xử lý 100% kiến nghị sau giám sát. Thời gian thực hiện từ năm 2021.

Thứ tư, đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao năng lực phản biện của Mặt trận Tổ quốc. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện và xã cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Mặt trận, đặt mục tiêu tổ chức từ 25 đến 30 hội nghị phản biện xã hội mỗi năm trên toàn địa bàn huyện. Nhân rộng mô hình Khu dân cư 6 không từ 156 khu dân cư hiện có lên 100% tổng số 256 khu dân cư vào cuối năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và quản lý trong hệ thống chính trị cấp huyện, cấp xã. Nghiên cứu cung cấp hệ thống giải pháp thực tiễn giúp Thường trực Huyện ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân 14 xã, thị trấn hoàn thiện phương thức chỉ đạo, tối ưu hóa quy trình giải quyết đơn thư khiếu nại và xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ công chức theo kết quả đầu ra.

Thứ hai, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính trị học, Xây dựng Đảng và Quản lý công. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học chuẩn mực về phương pháp tiếp cận cấu trúc - chức năng, kỹ thuật xử lý dữ liệu định lượng và phương pháp đánh giá thực trạng hệ thống chính trị tại địa bàn nông thôn đang trong quá trình đô thị hóa.

Thứ ba, cơ quan tham mưu công tác tổ chức, nội vụ và dân vận cấp tỉnh, huyện. Luận văn cung cấp cơ sở thực chứng về cơ cấu nhân sự, tỷ lệ đào tạo lý luận chính trị và quản lý nhà nước của 276 cán bộ công chức, giúp Ban Tổ chức Tỉnh ủy và Phòng Nội vụ xây dựng quy hoạch đào tạo cán bộ cơ sở sát với thực tiễn.

Thứ tư, giảng viên và báo cáo viên tại các Trường Chính trị tỉnh và Trung tâm Chính trị cấp huyện. Công trình là nguồn tư liệu thực tế sống động với các số liệu cụ thể về xây dựng nông thôn mới, các mô hình tự quản khu dân cư và kinh nghiệm tổ chức 228 cuộc đối thoại của cấp ủy Đảng để đưa vào bài giảng chuyên đề về công tác dân vận và xây dựng chính quyền cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Tư Nghĩa có điểm nghẽn gì lớn nhất? Điểm nghẽn lớn nhất là sự mất cân đối giữa trình độ chuyên môn văn hóa và kỹ năng quản lý nhà nước. Dù 98,19% cán bộ có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên nhưng tỷ lệ có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chỉ đạt 21,59% (38/276 người), dẫn đến việc xử lý các vấn đề pháp lý phức tạp về đất đai và thủ tục hành chính còn lúng túng.

Mặt trận Tổ quốc huyện Tư Nghĩa đóng góp như thế nào vào thành công xây dựng huyện nông thôn mới năm 2020? Mặt trận Tổ quốc các cấp đã vận động nhân dân đóng góp 113 tỷ đồng, 680.000 ngày công lao động và hiến 15.368 m² đất. Đồng thời, đơn vị đã xây dựng thành công mô hình Khu dân cư 6 không tại 156/256 khu dân cư, vận động 2,5 tỷ đồng Quỹ Vì người nghèo để xây mới 78 nhà Đại đoàn kết, tạo sự đồng thuận xã hội to lớn.

Tại sao luận văn lại nhấn mạnh giải pháp đổi mới hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã? Trong giai đoạn 2016 - 2021, Hội đồng nhân dân cấp xã đã tổ chức 294 cuộc giám sát nhưng hiệu quả thực tế chưa cao do thiếu chế tài ràng buộc trách nhiệm. Việc nâng cao chất lượng thẩm tra, tăng thời lượng chất vấn và theo dõi thực hiện kiến nghị sau giám sát là điều kiện tiên quyết để khẳng định quyền lực nhà nước của nhân dân ở cơ sở.

Mô hình đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy với nhân dân tại huyện Tư Nghĩa đạt kết quả ra sao? Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, Bí thư Đảng ủy tại 14/14 xã, thị trấn đã thực hiện 228 cuộc tiếp xúc, đối thoại trực tiếp tại 79 thôn, riêng năm 2020 tổ chức 32 cuộc. Cơ chế này giúp giải quyết kịp thời các bức xúc về ô nhiễm bãi rác Nghĩa Kỳ hay giải phóng mặt bằng Tỉnh lộ 624, ngăn chặn hiệu quả khiếu kiện vượt cấp.

Các tổ chức cơ sở Đảng huyện Tư Nghĩa đã thực hiện công tác phát triển đảng viên mới như thế nào? Từ năm 2015 đến tháng 6/2019, toàn huyện kết nạp được 566 đảng viên mới với chất lượng nâng cao rõ rệt: 63,96% có trình độ cao đẳng, đại học (362 đồng chí), 57,6% là đoàn viên thanh niên (326 đồng chí) và 58,5% là nữ (331 đồng chí), qua đó trẻ hóa và bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống chính trị.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng vận hành của 59 tổ chức cơ sở Đảng, 189 chi bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc tại 14 xã, thị trấn huyện Tư Nghĩa giai đoạn 2015 - 2020.
  • Xác định rõ nét thành tựu huy động sức dân xây dựng nông thôn mới với 113 tỷ đồng và 680.000 ngày công, đưa huyện hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ nông thôn mới năm 2020.
  • Chỉ rõ hạn chế cốt lõi về tỷ lệ cán bộ cấp xã có chứng chỉ quản lý nhà nước chỉ đạt 21,59% và chất lượng giám sát của Hội đồng nhân dân còn mang tính hình thức.
  • Xác lập 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình cụ thể đến năm 2025 nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, tinh gọn bộ máy và chuẩn hóa 100% đội ngũ cán bộ công chức cơ sở.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho chuyên ngành Chính trị học và quản trị địa phương, khẳng định bài học phát huy dân chủ trực tiếp thông qua 228 cuộc đối thoại cấp ủy với quần chúng nhân dân.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã gắn kết lý luận chính trị học với thực tiễn quản trị địa bàn cấp huyện tại một tỉnh ven biển miền Trung, cung cấp mô hình thực nghiệm có giá trị chuyển giao cao. Lộ trình triển khai tiếp theo cần tập trung ngay vào Đề án chuẩn hóa công chức cấp xã giai đoạn 2021 - 2023 và Đề án nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc đến năm 2025.

Các cơ quan lãnh đạo, nhà nghiên cứu và đội ngũ cán bộ công chức quan tâm đến việc nâng cao hiệu lực quản trị công địa phương nên khai thác sâu các phát hiện và hệ thống giải pháp trong công trình này để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cơ sở.