CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan về chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ tín dụng. Chất lượng dịch vụ Nếu như hàng hóa là hữu hình thì dịch vụ là phạm trù vô hình. Vì đặc tính của dịch vụ là vô hình, nên rất khó đo lường chất lượng và do đó nó được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng, môi trường nghiên cứu và từng loại hình dịch vụ.
Theo Zeithaml và Britner (2000) dịch vụ là hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho KH làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của KH. Theo Oliveira(2009) dịch vụ là hoạt động kinh tế tạo giá trị và cung cấp lợi ích cho KH tại thời gian cụ thể và địa điểm cụ thể như là kết quả của một sự thay đổi mong muốn, hoặc thay mặt cho người nhận (sử dụng) dịch vụ. Theo Kotler & Armstrong (1999), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà DN có thể cống hiến cho KH nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với KH. Như vậy có thể thấy rằng chất lượng dịch vụ là một khái niệm bao hàm nhiều khía cạnh, nó là một chỉ tiêu tổng hợp của các nhân tố khác nhau.
Trong những lĩnh vực dịch vụ khác nhau nó lại được đo lường bởi những nhân tố khác nhau. Nhưng chung quy lại, bản chất của chất lượng dịch vụ nói chung được xem là mức độ một cá nhân hay tổ chức đáp ứng dịch vụ như thế nào so với nhu cầu hoặc mong đợi của KH, hay một cách định nghĩa khác là khoảng cách giữa sự mong đợi của KH và nhận thức của họ khi sử dụng qua dịch vụ. Mỗi KH có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng không giống nhau. Chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng là nhân tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển.
Đã có rất nhiều nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng được thực hiện và mang lại nhiều đóng góp cho sự phát triển cả về lý thuyết và 1 thực tiễn cho ngành ngân hàng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới. Điều này càng cho thấy được thực tế yếu tố quan trọng nhất trong kinh doanh toàn cầu là chất lượng cảm nhận của sản phẩm. Chất lượng dịch vụ tín dụng Chất lượng của một dịch vụ hay một sản phẩm được thể hiện ở hai khía cạnh là lợi ích của người cung cấp và mức độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dung. Cũng giống như vậy, chất lượng tín dụng được biểu hiện ở mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng vay vốn, đồng thời đảm bảo sự phát triển và tồn tại của ngân hàng và cũng phải phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước.
Chất lượng dịch vụ tín dụng là khả năng đáp ứng của dịch vụ tín dụng đối với sự mong đợi của khách hàng đi vay, hay nói cách khác thì đó chính là khoảng cách giữa sự kỳ vọng của khách hàng đi vay với cảm nhận của họ về những kết quả mà họ nhận được sau khi giao dịch vay vốn với Ngân hàng. Đối với Ngân hàng: chất lượng dịch vụ tín dụng biểu hiện ở sự thỏa mãn và hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của Ngân hàng. Đối với khách hàng: chất lượng dịch vụ tín dụng biểu hiện ở việc ngân hàng đáp ứng một cách tốt nhất, hoàn hảo nhất nhu cầu của khách hàng. Dịch vụ tín dụng bao gồm rất nhiều dịch vụ khác nhau như cho vay, phát hành bảo lãnh, tài trợ thương mại, ….
Vì vậy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tín dụng như lãi suất, phí, thời gian xử lý hồ sơ, thái độ của nhân viên tín dụng, … Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng đối tượng khách hàng mà các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tín dụng lại khác nhau. Chất lượng dịch vụ tín dụng là yếu tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng và thỏa mãn của khách hàng khi sử dụng sản phẩm tín dụng tại ngân hàng. Nếu ngân hàng có những sản phẩm dịch vụ tín dụng thỏa mãn được nhu cầu khách hàng thì đó bước đầu mang đến sự hài lòng cho khách hàng. Vì vậy, muốn sự hài lòng của khách hàng nâng cao thì ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng.
Các lý thuyết về đánh giá chất lượng dịch vụ tín dụng Có nhiều nghiên cứu trên thế giới nhằm mục đích đo lường và đánh giá chất lượng dịch vụ. Cụ thể: Lehtinen, U & J. Lehtinen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) Quá trình cung cấp dịch vụ và (2) Kết quả sai khi cung cấp dịch vụ Theo Gronross (1984) thì thành phần của chất lượng dịch vụ dựa trên hai tiêu chuẩn: (1) chất lượng kỹ thuật: những gì khách hàng nhận được và (2) chất lượng chức năng: diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào. Trong khi đó, Parasuraman (1985) đã đưa ra một nội dung tổng thể về chất lượng dịch vụ và cho rằng bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng của dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng bởi 10 thành phần, đó là: Tin cậy, Đáp ứng, Năng lực phục vụ, Tiếp cận, Lịch sự, Thông tin, Tín nhiệm, An toàn, Hiểu biết KH, Phương tiện hữu hình.
Tuy mô hình 10 thành phần như trên bao quát hầu hết tất cả các khía cạnh của dịch vụ nhưng khó khăn của nó ở việc đo lường rất phức tạp. Hơn thế nữa, mô hình này mang tính lý thuyết cao và chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các yếu tố. Do đó, Parasuraman (1988) cùng cộng sự Cronin và Taylor (1992) đã kết hợp các nhân tố có tính tương quan để đưa mô hình từ 10 thành phần thành 5 thành phần bao gồm: - Sự tin cậy (reliability): liên quan đến việc cung cấp dịch vụ phù hợp, đúng thời điểm đã cam kết và nhận được sự tin cậy đối với KH. Điều này đòi hỏi sự nhất quán trong việc thực hiện dịch vụ và tôn trọng các cam kết cũng như giữ lời hứa với KH.
Nó bao gồm: tính chính xác trong việc thanh toán, lưu trữ hồ sơ đúng cách và thực hiện dịch vụ đúng hẹn. - Khả năng đáp ứng (responsiveness): Thành phần này thể hiện sự mong muốn và sẵn lòng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho KH. Nói cách khác, hiệu quả phục vụ là sự phản hồi từ phía nhà cung cấp dịch vụ đối với những gì mà KH mong muốn. 3 - Sự đảm bảo (assurance): Thành phần này tạo nên sự tín nhiệm, tin tưởng cho KH được cảm nhận thông qua sự phục vụ chuyên nghiệp, kiến thức chuyên môn giỏi, phong thái lịch thiệp và khả năng giao tiếp tốt của nhân viên, khả năng nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ KH, nhờ đó KH cảm thấy yên tâm mỗi khi sử dụng dịch vụ.
- Sự đồng cảm (empathy): Thể hiện sự quan tâm, chăm sóc KH ân cần, dành cho KH sự đối xử chu đáo tốt nhất. Sự quan tâm đối với KH càng nhiều thì sự cảm thông sẽ càng tăng. - Phương tiện hữu hình (tangibles): Thành phần này ám chỉ hình ảnh bên ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc, tài liệu, sách hướng dẫn, trang phục ngoại hình của nhân viên và hệ thống thông tin liên lạc của ngân hàng. Đây là 5 thành phần thông dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ, không những đã được chấp nhận bởi các nhà nghiên cứu, mà nó còn được sử dụng để đo lường chất lượng dịch vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có chất lượng dịch vụ tín dụng của ngành ngân hàng.
Tổng quan về hoạt động tín dụng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Mác cho rằng: “Tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”. Có thể hiểu tổng quát về khái niệm tín dụng: là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và các chủ thể trong nền kinh tế, tuy nhiên nó vẫn giữ nguyên được bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: "Cấp tín dụng là việc Tổ chức tín dụng thỏa thuận để tổ chức, các nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết 4 cho phép sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác". Trong các hình thức tín dụng thì tín dụng ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế. Với công nghệ ngân hàng hiện nay, thì tín dụng ngân hàng ngày càng trở thành một hình thức tín dụng quan trọng không thể thiếu cho sự phát triển của nền kinh tế. Các hình thức tín dụng ngân hàng 1.
Phân loại theo thời hạn tín dụng Thời hạn tín dụng là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản tín dụng và nó được xác định cụ thể ngày, tháng, năm, hay thời hạn tín dụng còn được hiểu là thời hạn được tính từ lúc đồng vốn đầu tiên của ngân hàng được phát ra cho đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng phải thu về. Phân loại tín dụng theo thời hạn có ý nghĩa quan trọng đối với các ngân hàng, nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến tính an toàn và sinh lợi của NHTM. Nếu căn cứ vào thời hạn, tín dụng được chia thành các loại sau đây: - Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn đến 12 tháng. Tín dụng ngắn hạn thường gắn liền với các khoản vay của cá nhân dành cho bổ sung vốn kinh doanh… hay các doanh nghiệp để bổ sung vào tài sản lưu động.
- Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng.