Chương 1: Giới thiệu luận văn thạc kỹ kinh tế - Chương 2: Tổng quan về chất lượng dịch vụ tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với các DNVVN và mô hình nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng chất lượng dịch vụ tín dụng DNVVN tại Vietinbank - Chương 4: Khảo sát, kiểm định mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tín dụng của Vietinbank đối với DNVVN - Chương 5: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng DNVVN tại Vietinbank 4 1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Đề tài xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tín dụng DNVVN tại Vietinbank. Từ đó giúp ban lãnh đạo của Vietinbank có những giải pháp nhằm cung cấp các dịch vụ tín dụng tốt hơn, nâng cao sức cạnh tranh của Vietinbank với các ngân hàng khác. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Những vấn đề cơ bản về DNVVN 2.1 Khái niệm về DNVVN Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế rất đa dạng và phong phú, trong đó phân loại dựa vào quy mô có thể chia thành doanh nghiệp vi mô, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp siêu lớn. Theo quan điểm của quan điểm của Ngân hàng Thế giới, DNVVN là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về phương diện vốn, lao động hay doanh thu.
DNVVN có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô đó là: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, cụ thể như sau: Doanh nghiệp siêu nhỏ là các doanh nghiệp có không quá 10 lao động, tổng giá trị tài sản không quá 100,000 USD và tổng doanh thu hằng năm không quá 100,000 USD. Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có không quá 50 lao động, tổng giá trị tài sản không quá 3,000,000 USD và tổng doanh thu hằng năm không quá 3,000,000 USD. Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có không quá 300 lao động, tổng giá trị tài sản không quá 15,000,000 USD và tổng doanh thu hằng năm không quá 15,000,000 USD. Ở Việt Nam, căn cứ theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ, đã định nghĩa như sau: DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc tổng số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 6 Bảng 2.1: Phân loại DNVVN theo khu vực kinh tế ở Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Khu vực Số lao động Tổng Số lao động Tổng nguồn Số lao động nguồn vốn vốn I.
Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đến 200 tỷ đồng đến người đến 300 thủy sản người 100 tỷ đồng người II. Công 10 người trở 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đến 200 tỷ đồng đến người đến 300 thủy sản người 100 tỷ đồng người II. Công 10 người trở 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 50 nghiệp và xuống trở xuống người đến 50 tỷ đồng đến người đến 100 thủy sản người 50 tỷ đồng người (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) 2.2 Đặc điểm DNVVN Là một doanh nghiệp nhưng với quy mô vừa và nhỏ nên bên cạnh những đặc điểm cơ bản của một doanh nghiệp thông thường, DNVVN còn có một số đặc điểm riêng biệt, cụ thể như sau: Đặc điểm được xem là lợi thế: Dễ dàng thành lập, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường. Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là có thể hoạt động được.
Vòng quay sản xuất nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có hoặc vay từ các thành viên Công ty. Bộ máy tổ chức tinh gọn, linh hoạt dễ quản lý, dễ quyết định. Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ nên có thể dễ dàng phát triển thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng. Các DNVVN dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng với công nghệ hiện đại.
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép. Với chiến lược phát triển và đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực, các DNVVN có thể đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao, cũng như có thể sản xuất 7 được hàng hóa chất lượng tốt và có sức cạnh tranh ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế. Các DNVVN chỉ cần lượng vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, vì thế dễ thu hút nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu vực này. Các DNVVN có mức đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn.
DNVVN có tỷ suất vốn đầu tư trên lao động thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn, cho nên hiệu suất tạo việc làm cao hơn. Ngoài ra, do quy mô nhỏ, số lượng lao động không nhiều, mối quan hệ giữa người lao động và người thuê lao động khá gắn bó, ít xảy ra xung đột hoặc xung đột có thể dễ dàng giải quyết. Đặc điểm được xem là hạn chế: Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNVVN nằm trong chính đặc điểm của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng khi muốn mở rộng thị trường hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị. Về trình độ công nghệ, do phần lớn là các cơ sở thủ công phát triển thành hoặc có tiếp cận được khoa học, công nghệ nước ngoài thì cũng thuộc thế hệ lạc hậu.
Do đó năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm không cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường yếu. Do tính chất vừa và nhỏ, doanh nghiệp gặp khó khăn trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh nghiệp đó hoạt động, và gặp khó khăn trong việc thiết lập chỗ đứng trên thị trường. Các DNVVN thường phụ thuộc vào các doanh nghiệp đầu ra. Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tính cạnh tranh trên thị trường.
Các DNVVN thường khó tiếp cận nguồn vốn từ các TCTD và tỏ ra bị động trên quan hệ thị trường. Nguyên nhân là do các DNVVN quản lý theo dõi sổ sách chứng từ kế toán chưa chuyên nghiệp, thiếu minh bạch, thường nhập nhằng giữa tài 8 chính của doanh nghiệp và tài chính của cá nhân chủ doanh nghiệp. Ngoài ra các vấn đề về thừa kế, nối nghiệp kinh doanh có thể làm cho các dự đoán về sự phát triển của doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn. Vì vậy mức độ tín nhiệm của DNVVN đối với các TCTD là tương đối thấp.
Các TCTD thường yêu cầu phải có tài sản bảo đảm mới cấp tín dụng và chỉ cho vay theo giá trị của tài sản bảo đảm. Tuy nhiên không phải lúc nào chủ doanh nghiệp cũng có tài sản bảo đảm hoặc giá trị tài sản lớn để thỏa mãn nhu cầu vốn tín dụng.3 Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Sự tồn tại của DNVVN trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan đối với các quốc gia đang phát triển. DNVVN có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của một đất nước: Giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động. Các DNVVN thường hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông sản, xây dựng và giao thông vận tải thường sử dụng công nghệ lạc hậu, thủ công do đó khả năng thu hút lao động là rất lớn.
Đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP), vào nguồn thu ngân sách Nhà nước và huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư và phát triển kinh tế. Các DNVVN Việt Nam đóng góp một phần lớn vào GDP hằng năm, số tiền thuế và phí mà các DNVVN đã nộp cho Nhà nước ngày càng tăng. Góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường. Việc phát triển không ngừng của các DNVVN tạo ra sự cạnh tranh không nhỏ giữa các doanh nghiệp kể cả với các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế.
Trong một thị trường cạnh tranh, những sản phẩm sản xuất ra phải không ngừng nâng cao chất lượng nếu không muốn bị đào thải. DNVVN lại nhạy cảm với sự biến động của thị trường đồng thời có tính linh hoạt trong sản xuất, các sản phẩm sản xuất ra luôn bám sát với yêu cầu của thị trường với chi phí thấp. Đây là một thách thức rất lớn với những doanh nghiệp lớn, giúp cho cho các doanh nghiệp này khó lũng đoạn thị trường. Do đó chính hoạt động kinh doanh của các DNVVN làm cho nền kinh tế trở nên năng 9 động, linh hoạt hơn, lộ trình hội nhập với kinh tế thế giới cũng vì thế được rút ngắn hơn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Sự phát triển của các DNVVN ở nông thôn sẽ thu hút những người lao động thời vụ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, nhưng vẫn sống ở địa phương, không phải di chuyển đi xa. Sự năng động và nhạy bén của DNVVN giúp họ chuyển dịch nhanh vào các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế đem lại giá trị cao, điều này góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của một quốc gia.2 Tín dụng đối với DNVVN 2.