chương 1 - luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Nguyễn Thị Quỳnh Hương). Thông qua định 10 nghĩa này có thể nhận thấy rằng: Chất lượng dịch vụ phản ánh trình độ phát triển của ngân hàng, phản ánh mức độ chuyên nghiệp và khả năng cung ứng dịch vụ của ngân hàng thương mại trong phạm vi kinh doanh của ngân hàng; chất lượng dịch vụ ngân hàng là một tiêu chí phản ánh sự phát triển của dịch vụ ngân hàng theo chiều sâu. Như vậy chất lượng dịch vụ chính là yếu tố then chốt giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh khi mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng dựa trên việc thỏa mãn các nhu cầu mong muốn của khách hàng đặt ra. Đặc điểm chất lượng dịch vụ ngân hàng Cũng giống như các dịch vụ khác chất lượng dịch vụ ngân hàng sẽ mang toàn bộ các đặc điểm chung về chất lượng của dịch vụ: Tính vượt trội: đối với cùng một loại dịch vụ của các nhà cung cấp khác nhau khách hàng chỉ đưa ra quyết định sử dụng dịch vụ của một nhà cung cấp khi khách hàng cảm thấy được giá trị dịch vụ đó đem lại lớn hơn so với các nhà cung cấp khác cùng tiếp thị dịch vụ.
Tính đặc trưng: chất lượng dịch vụ là tổng thể những mặt cốt lõi nhất kết tinh trong sản phẩm dịch vụ tạo nên tính đặc trưng của sản phẩm dịch vụ. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng sẽ chứa tính đặc trưng càng vượt trội. Sự phân biệt này gắn liền với việc xác định tính vượt trội hữu hình hay vô hình của sản phẩm, dịch vụ. Nhờ đó, khách hàng sẽ dễ dàng nhận biết được chất lượng dịch vụ của mỗi ngân hàng.
Tính cung ứng: chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện chuyển giao dịch vụ đến khách hàng. Đây là đặc điểm khá quan trọng và ảnh hưởng lớn đến quá trình đánh giá chất lượng dịch vụ của khách hàng dành cho ngân hàng mà điều này thường biểu hiện thông qua năng lực phục vụ của nhân viên, quá trình triển khai sản phẩm đến khách hàng,. Do vậy, để nâng cao chất lượng dịch vụ mà trước khi đưa dịch vụ tới khách hàng ngân hàng cần phải nâng cao các yếu tố nội tại trong doanh nghiệp, bởi đây là những yếu tố đầu tiên khách hàng trực tiếp tiếp cận trước khi bắt đầu sử dụng sản phẩm của ngân hàng. Tính thỏa mãn nhu cầu: dịch vụ tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Chất lượng dịch vụ chính là việc làm thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng. Như 11 vậy, để có thể thu hút được nhiều khách hàng đến sử dụng dịch vụ, ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo sự khác biệt trong chất lượng dịch vụ từ đó làm tăng sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng cung cấp. Tính tạo ra giá trị: chất lượng dịch vụ ngân hàng gắn liền với các giá trị được tạo ra nhằm phục vụ khách hàng. Sản phẩm sẽ trở nên vô ích nếu như sản phẩm đó không thực sự đem lại giá trị nào đó cho người sử dụng và sẽ được đánh giá là sản phẩm không chất lượng.
Trên thực tế, ngân hàng là người tạo ra dịch vụ nhưng người sử dụng dịch vụ và đánh giá về giá trị của dịch vụ đó là khách hàng. Do đó, có thể nhận định rằng tính giá trị chính là đặc điểm cơ bản và nền tảng cho việc xây dựng, phát triển dịch vụ của ngân hàng. Các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ Một số tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng: Một là, sự thỏa mãn sự hài lòng của khách hàng với ngân hàng. Ngân hàng cung cấp các dịch vụ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Nếu dịch vụ ngân hàng càng hoàn hảo có chất lượng cao thì khách hàng sẽ gắn bó và trung thành với ngân hàng hơn. Đồng thời, ngân hàng sẽ có nhiều cơ hội để thu hút khách hàng mới. Các tiêu chí định lượng cụ thể đánh giá sự thỏa mãn và hài lòng về chất lượng dịch vụ của ngân hàng bao gồm: Không có khách hàng bỏ đi: khách hàng đến giao dịch lần đầu họ tiếp tục giao dịch các lần tiếp theo và gắn bó lâu dài với ngân hàng. Số lượng khách hàng mới không ngừng tăng lên Giảm thiểu các lời phàn nàn của khách hàng kèm theo đó là những lời khen cảm phục động viên hay góp ý chân thành của khách hàng để nâng cao chất lượng và đa dạng về của ngân hàng hơn nữa.
Hai là, các sai sót trong giao dịch với khách hàng và rủi ro trong kinh doanh dịch vụ của ngân hàng. Chất lượng dịch vụ của ngân hàng ngày càng hoàn hảo sẽ góp phần giảm thiểu các sai sót trong giao dịch của ngân hàng với khách hàng giảm những lời phàn nàn và khiếu nại của khách hàng và ngân hàng từ đó giảm rủi ro trong kinh doanh dịch vụ của ngân hàng 12 Ba là, là quy mô và tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ của ngân hàng không ngừng tăng lên. Đây là kết quả tổng hợp của cả sự đa dạng dịch vụ, sự phát triển dịch vụ và chất lượng dịch vụ của ngân hàng tăng lên. Song đương nhiên là chất lượng dịch vụ có tính nổi trội hơn cả, bởi vì, nếu chất lượng sản phẩm không đảm bảo không được nâng cao thì sự đa dạng các dịch vụ và phát triển các dịch vụ sẽ không có ý nghĩa, không được khách hàng chấp thuận.
Bốn là, một số tiêu chí khác. Khả năng cạnh tranh về các dịch vụ ngân hàng ngày càng tăng lên thị phần của từng loại dịch vụ ngân hàng ngày càng được giữ vững và thực hiện để đạt được mục tiêu đó tất nhiên còn tùy thuộc vào sự đa dạng dịch vụ, công tác marketing, uy tín và danh tiếng của ngân hàng, quy mô và mạng lưới của ngân hàng. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự hài lòng của khách hàng. Khi nhà cung cấp đem lại cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ có chất lượng tốt, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thì bước đầu làm hài lòng khách hàng.
Do đó muốn nâng cao sự hài lòng của khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ. nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chất lượng dịch vụ là cái tạo ra trước, quyết định sự hài lòng của khách hàng. Mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các cuộc nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng. Một số mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng 1.
Mô hình chất lượng kỹ thuật - chức năng của Gronroos. Trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng cần phải thấu hiểu khách hàng cảm nhận như thế nào về CLDV và những nhân tố ảnh hưởng đến CLDV. Để có thể đạt được sự hài lòng của khách hàng, trong công tác quản lý CLDV, ngân hàng cần phải kết hợp đồng thời cả chất lượng kỳ vọng và chất lượng nhận thức. Gronroos (1984) (SQ1) cho rằng cho rằng CLDV được xác định bởi 3 thành phần: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng, và hình ảnh.
Trong đó: 13 Chất lượng kỹ thuật: Là những giá trị mà khách hàng thật sự nhận được từ dịch vụ của nhà cung cấp. Chất lượng chức năng: Thể hiện cách thức phân phối dịch vụ tới người tiêu dùng của nhà cung cấp dịch vụ. Hơn nữa, Gronroos (1984) còn cho rằng kỳ vọng của khách hàng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: các hoạt động marketing truyền thống (quảng cáo, quan hệ công chúng, chính sách giá cả) và yếu tố ảnh hưởng bên ngoài (phong tục, tập quán, ý thức, truyền miệng), trong đó yếu tố truyền miệng có tác động đáng kể đến khách hàng tiềm năng hơn so với hoạt động tiếp thị truyền thống và cũng nhấn mạnh rằng việc nghiên cứu CLDV phải dựa trên quan điểm của người tiêu dùng.1: Mô hình chất lượng kỹ thuật - chức năng của Gronroos (1984) Dịch vụ CLDV Dịch vụ kỳ vọng cảm nhận cảm Các hoạt động tiếp thị truyền thông (quảng cáo, PR, giá cả) và các ảnh hưởng bên ngoài (tập quán, ý thức, truyền miệng) Hình ảnh Chất lượng Chất lượng kỹ thuật chức năng Nguồn: Gronroos (1984) 1. Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985) Trên cơ sở mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos (1984), Parasuraman và cộng sự (1985) đã tiến hành xây dựng mô hình chất lượng khoảng cách giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp ở các cấp độ khác nhau.
Mô hình được xây dựng trên vấn đề nghiên cứu: Làm thế nào để đo lường khoảng cách các cấp độ khác nhau bằng việc sử dụng một công cụ đo lường tiêu chuẩn? Các yếu tố nào tác động tới 14 các khoảng cách đó? Có sự khác nhau về khoảng cách giữa các ngành công nghiệp không? Mô hình chất lượng dịch vụ được xây dựng dựa trên phân tích các khoảng cách chất lượng dịch vụ: Khoảng cách 1 (Gap 1): là khoảng cách giữa sự mong đợi thật sự của khách hàng và sự nhận thức của nhà quản lý dịch vụ du lịch về điều đó. Nếu khoảng cách này lớn tức là nhà quản lý du lịch chưa nắm rõ được khách hàng mong đợi gì. Vì vậy hiểu chính xác khách hàng mong đợi gì là bước đầu tiên và là quan trọng nhất trong việc cung cấp có chất lượng đối với một dịch vụ. Khoảng cách 2 (Gap 2): là khoảng cách giữa sự nhận thức của nhà quản lý dịch vụ về những gì khách hàng mong chờ với việc chuyển đổi các nhận thức đó thành tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ của mình.
Khoảng cách 4 (Gap 4): là khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ được cung cấp với những thông tin, quảng cáo hay lời hứa mà một dịch vụ du lịch đem đến cho khách hàng, nó thể hiện nhà quản lý dịch vụ đó có thực hiện lời hứa về dịch vụ với họ hay không. Có vẻ như sự đánh giá cao, thấp đối với chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào sự nhận định của khách hàng đối với kết quả dịch vụ thực tế và sự kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ đó.2: Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ Nguồn: Parasuraman & ctg (1985) Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman (1985) đã đưa ra một nội dung tổng thể về chất lượng dịch vụ.