Chương 1 chỉ ra tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc phát triển TTKDTM tại Agribank - Chi nhánh Hồ Chí Minh. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, tác giả đưa ra 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được giải quyết thông qua 03 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Tiếp theo, tác giả trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực trạng hoạt động TTKDTM tại Agribank - Chi nhánh Hồ Chí Minh giai đoạn 2019 – 2021. Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để đánh giá thực trạng hoạt động TTKDTM tại chi nhánh.
Cuối cùng, chương này trình bày kết cấu luận văn gồm 05 chương và sơ lược về nội dung chính của mỗi chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 2 sẽ trình bày một số cơ sở lý thuyết, và các nghiên cứu trong và ngoài nước về TTKDTM của NHTM. Đồng thời, chương này sẽ chỉ ra kinh nghiệm phát triển TTKDTM tại một số chi nhánh NHTM trong và ngoài nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Agribank - Chi nhánh Hồ Chí Minh nhằm phát triển TTKDTM trong thời gian tới. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 2.
Khái niệm dịch vụ Theo Zeithaml và Bitner (2000) “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” Theo Philip Kotler (2007), “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên (bên bán) có thể cung cấp cho bên kia (bên mua) và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. Từ những quan điểm trên có thể hiểu: dịch vụ là những hoạt động của con người tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới hình thái vật chất, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân, đổi lại bên cung cấp sẽ nhận được giá trị từ người sử dụng. Khái niệm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt TTKDTM là chỉ các nghiệp vụ chi trả tiền hàng, dịch vụ và các khoản thanh toán khác trong nền kinh tế quốc dân được thực hiện bằng cách trích chuyển tài khoản trong hệ thống tổ chức tín dụng hoặc bù trừ công nợ mà không sử dụng đến tiền mặt (Nguyễn Thị Mùi, 2009).
7 Theo Neo Capon (2009) “TTKDTM là hình thức thanh toán không trực tiếp sử dụng tiền mặt và được thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản của chủ thể liên quan đến số tiền phải thanh toán hoặc dựa vào các chứng từ hợp pháp như giấy nhờ thu, giấy ủy nhiệm chi, séc, v. để trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của đoan vị này đến tài khoản của đơn vị khác ở ngân hàng” Như vậy, TTKDTM là hình thức thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt, được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Tham gia vào hoạt động TTKDTM có các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán: tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán gồm NHTM và các tổ chức khác được NHNN cấp phép; tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế có nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ trong quan hệ thương mại. Dịch vụ TTKDTM của NHTM là các sản phẩm.
dịch vụ mà NHTM cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu TTKDTM. Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt TTKDTM có những đặc điểm cơ bản như sau (Lê Thị Tuyết Hoa và cộng sự, 2017): Thứ nhất, không sử dụng tiền mặt để thanh toán hàng hóa và dịch vụ mà thực hiện thanh toán thông qua các phương thức thanh toán khác thông qua dịch vụ của NHTM. Thứ hai, trong TTKDTM, tiền tệ xuất hiện không dưới vai trò là trung gian trao đổi, mà xuất hiện dưới vai trò là tiền ghi sổ (tiền ngân hàng) và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách. Do đó TTKDTM yêu cầu có ít nhất ba bên tham gia gồm người chi trả (bên mua; người thụ hưởng (bên bán) và ngân hàng thương mại.
Mỗi bên tham gia phải có tài khoản tại các ngân hàng. 8 Thứ ba, trong TTKDTM, vai trò của ngân hàng là đặc biệt quan trọng và không thể thiếu trong phương thức thanh toán này. Nếu như thanh toán bằng tiền mặt được thực hiện bằng mối quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán thì TTKDTM được thực hiện thông qua sự tham gia của ít nhất một ngân hàng. Do đó, ngân hàng đóng vai trò không thể thiếu trong thanh toán chuyển khoản, và trở thành trung tâm thanh toán cho toàn xã hội.
Thứ tư, trong TTKDTM luôn có chứng từ thanh toán. Đây là giấy tờ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán. Chứng từ thanh toán có thể dưới hình thức bằng chứng từ giấy hoặc chứng từ điện tử tùy theo hình thức thanh toán cụ thể. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt TTKDTM đem lại lợi ích cho nhiều bên (Wulandari, 2016).
Đối với nền kinh tế TTKDTM tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm soát lạm phát. Thông qua việc khống chế tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ tái chiết khấu,v. ngân hàng trung ương gián tiếp điều hoà khối lượng tiền tệ cung ứng, góp phần bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định. Căn cứ vào việc thanh toán luân chuyển tiền tệ mà hoạch định các chính sách cần thiết.
Trong TTKDTM, lượng tiền mặt trong lưu thông giảm, góp phần hạn chế lạm phát, giảm chi phí in ấn, phát hành, lưu thông và bảo quản tiền, tăng tính minh bạch tài chính và khả năng kiểm soát các dòng tiền trong nền kinh tế (Krzysztof, 2006). Như vậy, khi TTKDTM được khuyến khích và đưa vào như một phương thức thanh toán chính yếu trong xã hội, sẽ đem lại nhiều lợi ích và thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững. Nó sẽ tạo sự minh bạch trong các khoản chi tiêu và giao dịch của chính phủ, các đơn vị kinh doanh và cá nhân, giúp dòng chảy tiền tệ được lưu thông rõ ràng và trơn tru hơn. TTKDTM giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực của các hoạt động kinh tế phi chính thức, tăng cường tính chủ đạo của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế và 9 điều hành các chính sách kinh tế tài chính quốc gia, góp phần làm lành mạnh hoá kinh tế - xã hội.
Nếu các giao dịch trong nền kinh tế được thực hiện chủ yếu bằng chuyển khoản thì tiền chỉ chuyển từ tài khoản người này sang tài khoản người khác, từ tài khoản của doanh nghiệp này sang tài khoản của doanh nghiệp khác, từ ngân hàng này sang ngân hàng khác nên tiền tệ vẫn nằm trong hệ thống ngân hàng. Do đó, tổn thất tài sản Nhà nước và tổn thất tài sản của doanh nghiệp sẽ được hạn chế rất nhiều. Như vậy, trên cơ sở tài khoản tiền gửi và các tài khoản thanh toán qua ngân hàng đã giúp cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý như bộ chủ quản, cơ quan thuế, v. có điều kiện để kiểm tra, theo dõi doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh chính xác.
Đối với các ngân hàng TTKDTM giúp ngân hàng và các tổ chức tín dụng khai thác, sử dụng các nguồn vốn của nền kinh tế một cách hiệu quả trong quá trình chu chuyển tiền tệ, thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán của nền kinh tế. TTKDTM có một vai trò quan trọng trong việc giảm khối lượng tiền mặt lưu thông, giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm bớt chi phí cho các chủ thể tham gia. Các nghiệp vụ TTKDTM đều được thực hiện thông qua hệ thống các ngân hàng, do đó, góp phần giúp cho ngân hàng trung ương thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ kiểm soát nạn rửa tiền, kiểm soát hoạt động các đơn vị kinh tế của các ngành nghề một cách nhanh chóng, chính xác và kịp thời đưa ra các giải pháp giúp nền kinh tế tăng trưởng tốt và bền vững. TTKDTM có ý nghĩa quan trọng đến việc tiết kiệm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, từ đó, giảm bớt những phí tổn to lớn của xã hội có liên quan đến việc phát hành và lưu thông tiền.
Nếu như với phương thức thanh toán tiền mặt truyền thống như hiện nay sẽ tiêu tốn khá nhiều chi phí in, kiểm đếm, chi phí vận chuyển từ ngân hàng tổng ra các ngân hàng nhỏ lẻ, thời gian nhân viên kiểm tiền, bảo quản hay hủy bỏ tiền cũ, tiền rách; v. Việc TTKDTM có thể giúp các ngân hàng giảm thiểu những lãng phí trên. TTKDTM giảm tỷ lệ chủ thể thanh toán trữ tiền bên mình. Điều này có vai trò quan trọng trong việc huy động tích tụ các nguồn vốn tạm thời chưa sử dụng đến của 10 khách hàng vào tín dụng, tạo nguồn cho tài khoản để thực hiện thanh toán.
Loại tiền gửi này cũng là một nguồn vốn cung cấp cho các nghiệp vụ sinh lời của ngân hàng thương mại, gửi và thanh toán phải trả lãi, do vậy giảm giá đầu vào của đi vay để cho vay. Khi ngân hàng tăng được tỉ trọng thanh toán không dùng tiền mặt cũng là lúc ngân hàng thu hút được nhiều hơn nguồn vốn trong xã hội vào ngân hàng. Trên cơ sở nguồn vốn tăng thêm đó, ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng cho vay, tăng vốn cho nền kinh tế. Đối với khách hàng Một là, TTKDTM giúp người sử dụng giao dịch, thanh toán dễ dàng, tiện lợi.
Các cá nhân và các tổ chức doanh nghiệp có thể sử dụng séc, thẻ, dịch vụ internetbanking, mobile bankinhg, v. để thanh toán khi họ mua hàng từ món hàng nhỏ nhất cho tới những món hàng có giá trị lớn mà không cần lúc nào cũng phải mang lượng tiền mặt lớn theo người. Hai là, TTKDTM mang đến sự an toàn cho người sử dụng. Khi phải vận chuyển một lượng tiền lớn để thanh toán ở nơi xa, thì có rất nhiều rủi ro có thể gặp phải như bị cướp, hoặc các mất mát khác do thiên tai, tai nạn, v.