Chương 1 của bài viết trình bày tổng quát về bài nghiên cứu, tầm quan trọng của CLDV cùng những tồn tại hiện có tại BIDV Bình Dương. Từ đó, tác giả nêu lên tính cấp thiết của đề tài, xác định các đối tượng và mục tiêu nghiên cứu, tìm ra được ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG TẠI QUẦY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Để làm rõ hơn nữa về bản chất của CLDV, tác giả sẽ đi sâu tìm hiểu khái niệm về dịch vụ, CLDV và CLDV khách hàng tại quầy hiện nay; tìm hiểu các nghiên cứu trong và ngoài nước, tham khảo các mô hình nghiên cứu từ những nghiên cứu này. Từ đó, tác giả sẽ khái quát được các cơ sở lý luận đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu, trình bày các giả thiết nghiên cứu nhằm làm nền tảng cho việc phân tích tình huống cụ thể tại BIDV Bình Dương.
Các khái niệm chính về dịch vụ và chất lượng dịch vụ 2. Các khái niệm về dịch vụ Dịch vụ có rất nhiều đặc điểm giúp phân biệt chúng so với hàng hóa vật chất thông thường. Theo Grönroos (2000), một vài trong số những khác biệt chính giữa dịch vụ và hàng hóa thông thường là dịch vụ là những quá trình; chúng vô hình và không đồng nhất; chúng không thể được lưu trữ cũng như chuyển giao quyền sở hữu; sản xuất, phân phối và tiêu dùng diễn ra đồng thời trong lúc dịch vụ được cung cấp; giá trị cốt lõi được tạo ra trong mối tương tác giữa người mua và người bán. Trong lĩnh vực Marketing, Kotler và Keller (2012) đã định nghĩa dịch vụ là bất kỳ hành vi hoặc cách thức thực hiện một công việc nào đó mà một bên có thể tạo giá trị sử dụng cho khách hàng, nó vô hình và có hoặc không gắn đến một sản phẩm hiện hữu.
Tại Việt Nam, Nguyễn Thành Công (2017) cho rằng “Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá, không thể tách rời khỏi nguồn gốc, không ổn định về chất lượng, không lưu giữ được,. nhưng phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội”. Trần Quốc Trung (2018) định nghĩa dịch vụ là một hay một chuỗi các hoạt động, có tính tương tác cao giữa người bán và người mua, tạo ra một sản phẩm vô hình nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất hay tinh thần cho khách hàng.
Nói tóm lại, những nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh tính chất vô hình của dịch vụ và mục đích nhằm thoả mãn nhu 6 cầu của khách hàng. Từ những khái niệm trên, các nghiên cứu đã đưa ra các đặc điểm của dịch vụ có những điểm chung như sau: Kotler và Keller (2012) cho rằng có bốn đặc điểm dịch vụ đặc biệt ảnh hưởng lớn đến việc thiết kế các chương trình tiếp thị, bao gồm: (i) tính vô hình; (ii) tính biến đổi; (iii) tính không thể tách rời và (iv) tính dễ hư hỏng. Mỗi đặc tính đặt ra thách thức và yêu cầu một số chiến lược nhất định. Các nhà quản lý phải tìm cách để tăng và tiêu chuẩn hóa CLDV của mình sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường.
Theo Zeithaml và Bitner (2000) thì bốn đặc điểm của dịch vụ nhằm phân biệt giữa dịch vụ và hàng hoá, bao gồm: (i) tính vô hình; (ii) tính không đồng nhất; (iii) tính đồng thời của quá trình thực hiện và tiêu thụ; (iv) tính dễ hư hỏng. Các đặc điểm khác biệt này sẽ dẫn đến những thách thức (cũng như lợi thế) cho các nhà quản lý. Theo đó, tác giả cho rằng dịch vụ có xu hướng không đồng nhất hơn, vô hình hơn và khó đánh giá hơn so với hàng hóa. Tại Việt Nam, Hà Nam Khánh Giao (2018) đã khái quát dịch vụ có những nét đặc trưng cơ bản để phân biệt với các sản phẩm hữu hình như có thuộc tính: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ.
Các khái niệm về chất lượng dịch vụ Grönroos (1984) cho rằng có hai phương diện để đánh giá CLDV đó là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Trong đó, chất lượng kỹ thuật là những giá trị mà khách hàng nhận được từ những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Chất lượng chức năng là cách thức phân phối dịch vụ tới khách hàng hay kết quả cuối cùng của quy trình cung cấp dịch vụ. Hai phương diện này dễ bị ảnh hưởng bởi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, nhân viên, những gì họ thực hiện dịch vụ, họ nói những gì và phục vụ như thế nào.
Như vậy, có thể dễ dàng đánh giá khách quan chất lượng kỹ thuật nhưng khó khăn hơn đối với chất lượng chức năng. Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của 7 họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”. Tại Việt Nam, Trần Quốc Trung (2018) cho rằng khách hàng sẽ có những cảm nhận về dịch vụ mà chính họ là người được trải nghiệm. CLDV sẽ được đánh giá dựa trên cảm nhận của khách hàng.
CLDV có thể được khái quát thành những đặc điểm cung cấp (sự kỳ vọng) so với cảm nhận thực tế về dịch vụ. Tóm lại, vai trò của các ngành dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế, vì thế việc tìm hiểu và đánh giá CLDV là điều rất cần thiết. Các mô hình lý thuyết đã nghiên cứu trước về chất lượng dịch vụ Parasuraman và cộng sự (1985) đã xây dựng mô hình chất lượng khoảng cách giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp ở nhiều cấp độ khác nhau dựa trên cơ sở mô hình CLDV của Grönroos (1984). Mô hình đưa ra 05 khoảng cách đo lường CLDV bao gồm 10 thành phần: (i) độ tin cậy; (ii) sự đáp ứng; (iii) năng lực; (iv) tiếp cận; (v) lịch sự; (vi) giao tiếp; (vii) sự tín nhiệm; (viii) bảo mật; (ix) hiểu biết khách hàng; (x) phương tiện hữu hình.
Mô hình này đã bao quát hầu hết các khía cạnh của dịch vụ nhưng có khuyết điểm là rất khó khăn trong việc đo lường CLDV do mang nhiều tính lý thuyết và có một vài thành phần không đạt được giá trị để phân biệt. Vì thế, mô hình này được chính Parasuraman và cộng sự tiếp tục phát triển vào các năm 1988 và năm 1991, ông đã kết hợp các biến có tính tương quan lại với nhau và hiệu chỉnh đưa ra mô hình hoàn chỉnh bao gồm 05 thành phần: (i) phương tiện hữu hình; (ii) độ tin cậy; (iii) sự đáp ứng; (iv) năng lực; (v) sự đồng cảm và đưa ra bộ thang đo SERVQUAL gồm 22 biến quan sát liên quan để đo lường chất lượng cảm nhận dịch vụ của khách hàng. Cronin và Taylor (1992) cho rằng CLDV là một hình thức của thái độ, quan điểm của khách hàng, là tiền đề của sự hài lòng và có ý nghĩa đối với ý định mua hàng của khách hàng. Khách hàng chỉ mua dịch vụ trên cơ sở đánh giá về giá trị của dịch vụ nên việc đánh giá đo lường CLDV tốt nhất chỉ dựa trên chất lượng cảm nhận mà không cần có chất lượng kỳ vọng của khách hàng và tác giả đã đề xuất mô hình SERVPERF để đo lường CLDV.
Bahia và Nantel (2000) đã đưa ra mô hình BSQ nhằm đo lường CLDV về cảm nhận của khách hàng đối với các loại hình dịch vụ ngân hàng một cách tổng quát. Mô hình này bao gồm 6 thành phần: (i) hiệu quả và đảm bảo; (ii) tiếp cận; (iii) giá cả; (iv) phương tiện hữu hình; (v) danh mục dịch vụ; (vi) độ tin cậy và bộ thang đo gồm 31 biến quan sát dựa trên sự kết hợp mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1985) với các lý thuyết Marketing hỗn hợp. Các khái niệm về dịch vụ ngân hàng thương mại và chất lượng dịch vụ khách hàng tại quầy của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng thương mại Theo quan điểm của Tổ chức Thương mại Thế Giới (WTO): “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào mang tính chất tài chính được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ tài chính.
Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính”. Theo đó, dịch vụ NHTM bao gồm các loại hình dịch vụ như: Nhận tiền gửi với các sản phẩm như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền đặt cọc, ký gửi…; Cho vay dưới dạng các hình thức: vay tiêu dùng, vay thế chấp, tài trợ thương mại, thuê tài chính, các dịch vụ về tư vấn, trung gian môi giới. Tại Việt Nam, Theo quan điểm của Hà Thạch (2012) thì dịch vụ ngân hàng bao gồm tất cả các hoạt động nghiệp vụ như: cho vay, huy động vốn, nghiệp vụ thanh toán, ngoại hối… được các NHTM cung ứng cho nền kinh tế. Nguyễn Thành Công (2017) cũng cho rằng dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các hoạt động về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối.
của các NHTM nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách hàng. Theo quan điểm của Trần Thị Thanh Thuý (2018) thì dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối. được các hệ thống ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Các quan điểm này đều phù hợp với quan điểm của WTO và trên thế giới.
Các loại hình dịch vụ tại quầy của ngân hàng thương mại Dịch vụ tại quầy bao gồm tất cả các giao dịch trực tiếp giữa khách hàng với nhân viên ngân hàng (không tính các giao dịch qua kênh điện tử/online) đối với tất cả các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, như giao dịch chuyển khoản tại quầy, giao dịch tiền gửi tại quầy, giao dịch tín dụng, thanh toán quốc tế, các dịch vụ thẻ và tài khoản tại quầy giao dịch. Đây là kênh giao dịch được khách hàng lựa chọn nhiều nhất và phổ biến nhất của BIDV. Theo đó, Trầm Thị Xuân Hương (2013) cho rằng hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và các hoạt động khác có liên quan, bao gồm các dịch vụ cơ bản sau: (i) dịch vụ huy động vốn; (ii) dịch vụ tín dụng; (iii) dịch vụ thanh toán; và (iv) các dịch vụ khác. Trong đó: (i) Dịch vụ huy động vốn: Đây là một trong những hoạt động đóng vai trò quan trọng nhất vì nó tạo ra nguồn vốn cho các ngân hàng.