Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 1. Một số khái niệm 1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic Product) là tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia (không phân biệt trong nước hay nước ngoài) ở một thời điểm nhất định, thường là một năm (TCTK Việt Nam, 2017).
GDP là chỉ số khoa học được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1934 và trở nên phổ biến trên toàn thế giới cho đến nay. Chỉ số GDP không bao gồm phần khấu trừ đối với khoản khấu hao vốn vật chất hay sự suy giảm, xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên. GDP được tính theo giá hiện hành và giá so sánh. Trong đó GDP tính theo giá hiện hành thường được dùng để nghiên cứu cơ cấu kinh tế, mối quan hệ tỉ lệ giữa các nhóm ngành trong sản xuất.
Còn GDP tính theo giá so sánh là đã loại trừ biến động của giá cả qua các năm, được dùng để tính tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất. GDP là một trong ba chỉ số đánh giá sự phát triển của con người (HDI). GDP thể hiện số lượng nguồn của cải được làm ra ở bên trong của một quốc gia cũng như sự phồn vinh hay khả năng phát triển của nền kinh tế của quốc gia đó. Tổng thu nhập quốc gia (GNI) Tổng thu nhập quốc gia (GNI – Gross National Income) là tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của một quốc gia ở một thời điểm nhất định, thường là một năm (TCTK Việt Nam, 2017).
Như vậy, GNI bao gồm tổng giá trị của hàng hóa và dịch vụ tạo ra trong quốc gia (GDP) cộng với thu nhập nhận được từ nước ngoài (lãi vay và cổ tức do có vốn đầu tư ra nước ngoài, nguồn thu do người lao động làm việc từ nước ngoài gửi về) trừ đi những khoản tương tự phải trả ra nước ngoài (thu nhập phải chuyển cho nước ngoài do nhận vốn và thu nhập của người lao động nước ngoài làm việc trong nước). 11 GNI là chỉ số chỉ số kinh tế, thước đo tổng hợp quan trọng nhất của thu nhập quốc dân trong một năm. Đây là chỉ số đo thực lực của một quốc gia. GNI chỉ rõ chủ sở hữu và hưởng thụ nguồn của cải đã làm ra.
Thu nhập bình quân theo đầu người GDP và GNI bình quân theo đầu người là chỉ số được xác định bằng tương quan giữa GDP so với số dân trung bình cùng thời điểm (TCTK Việt Nam, 2017). GDP/người và GNI/người là chỉ số phản ánh khả năng, trình độ và thành tựu phát triển kinh tế của một quốc gia, dùng để so sánh mức sống dân cư giữa quốc gia này với quốc gia khác hoặc giữa các tỉnh, thành phố trong một quốc gia. GDP/người và GNI/người cũng là tiêu chí quan trọng để đánh giá thành tựu phát triển con người của mỗi quốc gia thông qua chỉ số phát triển con người (HDI). Hiện nay, người ta có xu hướng sử dụng GNI/người thay cho GDP/người bởi độ chính xác của nó trong việc đánh giá trình độ phát triển kinh tế, mức sống lý thuyết của người dân trong từng quốc gia và dùng chỉ tiêu này để phân chia thành các nhóm nước khác nhau trên thế giới.
Trên toàn thế giới, các chỉ tiêu GDP, GNI hay GDP/người, GNI/người của mỗi nước (nội tệ) được quy đổi sang một đơn vị đo lường quốc tế thống nhất (ngoại tệ - thường là USD) theo phương pháp sức mua tương đương (PPP). PPP cho phép chúng ta đưa ra so sánh chuẩn về mức giá thực tế giữa các nước. Sức mua tương đương (PPP) Sức mua tương đương (PPP – Purchasing Power Parity) là khái niệm do nhà thống kê học người Mỹ R. PPP cho ta biết một đơn vị tiền tệ của nước này có thể mua được bao nhiêu so với một đơn vị tiền tệ của nước khác hay giá của một mặt hàng trong nước tính bằng tiền nội tệ so với giá của mặt hàng tương tự ở nước ngoài được tính bằng ngoại tệ (USD) bởi hàng hóa và dịch vụ ở các nước khác nhau thì có giá khác nhau.
PPP phản ánh thu nhập được điều chỉnh theo mặt bằng giá quốc tế thống nhất, dùng để so sánh mức sống bình quân của dân cư giữa các quốc gia và là cơ sở để xác định mức đóng góp của các nước thành viên trong các tổ chức quốc tế. Chuẩn nghèo và tỉ lệ hộ nghèo Chuẩn nghèo và tỉ lệ hộ nghèo là chỉ tiêu kinh tế quan trọng đánh giá CLCS. - Chuẩn nghèo là mức thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người được dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo. Những người hoặc hộ có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo, hộ nghèo.
- Tỉ lệ nghèo là phần trăm số người hoặc số hộ có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo so với tổng số người hoặc số hộ được nghiên cứu. Giáo dục Giáo dục là tất cả các dạng học tập của con người. Giáo dục là một quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm của xã hội loài người (TCTK Việt Nam, 2017). Giáo dục được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước.
Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, thực hiện nền giáo dục toàn dân và giáo dục cho mọi người với mục tiêu cao nhất là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài. Y tế và chăm sóc sức khỏe Sức khoẻ là vốn quí và là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi con người, là điều kiện quan trọng để thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, là tương lai của mỗi dân tộc. Y tế là hệ thống tổ chức thực hiện các biện pháp cụ thể để dự phòng, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ (CSSK) cho nhân dân (TCTK Việt Nam, 2017). Y tế và CSSK góp phần tạo nên một cộng đồng dân cư với thể lực, trí lực sung mãn, đáp ứng công cuộc CNH, HĐH đất nước, xây dựng đất nước ta trở thành một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Chất lượng cuộc sống CLCS là một khái niệm khá rộng, được hiểu theo nhiều nghĩa với nhiều tiêu chí đánh giá khác nhau và được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Để hiểu khái niệm chất lượng cuộc sống là gì, trước hết ta sẽ tìm hiểu xem chất lượng là gì và có mối liên hệ gì với chất lượng cuộc sống? 13 1. Chất lượng Trong mỗi lĩnh vực, với mục đích khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế đưa ra định nghĩa được thừa nhận rộng rãi nhất.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 thì chất lượng là: “Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, chất lượng là một phạm trù triết học biểu hiện những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác.
Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, được biểu hiện ra bên ngoài bằng các thuộc tính, nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Chất lượng của sự vật luôn gắn liền với số lượng, mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng. Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, nếu sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ để sản xuất ra nó có cao tới đâu đi nữa. Do đó để đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm của người tiêu dùng.
Cùng một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn. Trong đời sống, những yếu tố thuộc về chất lượng làm con người cảm thấy thỏa mãn với một sản phẩm hay dịch vụ thường là: Tốt, đẹp, bền, sử dụng lâu dài, thuận tiện và giá cả hợp lý. Chất lượng cuộc sống CLCS vừa mang tính định tính vừa mang tính định lượng, người ta đánh giá CLCS dựa trên những tiêu chí cơ bản về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, trí lực và thể lực của con người trong mối quan hệ tổng hoà với các điều kiện phát triển dân số, KT-XH, tài nguyên và môi trường. Người đầu tiên đưa ra khái niệm về CLCS được đông đảo các nhà nghiên cứu chấp nhận là R.Sharma – Nhà dân số học người Ấn Độ.
Trong tác phẩm“Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” (1990), ông định nghĩa: Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc hoặc thoả mãn) với những nhân tố của cuộc sống mà những nhân tố đó được coi là quan trọng 14 nhất đối với bản thân một con người. Thêm vào đó, chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được. Nó như cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống. Định nghĩa cho ta thấy rõ những tiêu chí về mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những yếu tố quan trọng của CLCS.
Tác giả William Bell đã mở rộng toàn diện và cụ thể hơn quan niệm về CLCS của dân cư. Ông gắn quan niệm CLCS với các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa, sinh thái… Đặc biệt, ông nhấn mạnh vấn đề “an toàn” và khẳng định CLCS được đặc trưng bởi sự an toàn sống trong môi trường tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành mạnh.