CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1.1 KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG 1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm Khái niệm chất lượng sản phẩm đã xuất hiện từ lâu, ngày nay được sử dụng phổ biến và rất thông dụng hàng ngày trong cuộc sống cũng như trong sách báo. Bất cứ ở đâu hay trong tài liệu nào chúng ta đều thấy xuất hiện thuật ngữ chất lượng. Tuy nhiên hiểu như thế nào là chất lượng lại là vấn đề không đơn giản. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lượng.
Mỗi cách tiếp cận xuất phát từ những góc độ và nhằm phục vụ những mục tiêu khác nhau. Để thực hiện chiến lược và các mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh của mình các doanh nghiệp đưa ra những quan niệm chất lượng xuất phát từ góc độ của người sản xuất, người tiêu dung, từ các đặc tính của sản phẩm hay từ đòi hỏi của thị trường. Căn cứ vào những đặc điểm chung từ các định nghĩa ta có thể phân thành các nhóm sau : Quan niệm chất lượng siêu hình cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất của sản phẩm. Đại diện cho cách tiếp cận này là Barbara Tuchman “ Chất lượng là sự tuyệt hảo của sản phẩm ”.
Điều này hàm ý rằng sản phẩm chất lượng là những sản phẩm tốt nhất. Khi nói đến sản phẩm có chất lượng người ta nghĩ ngay tới những sản phẩm đã nổi tiếng và được thừa nhận rộng rãi. Quan niệm này mang tính triết học, trừu tượng chỉ có ý nghĩa đơn thuần trong nghiên cứu.(1) Quan niệm chất lượng xuất phát từ các thuộc tính của sản phẩm cho rằng chất lượng được phản ánh bởi các tính chất đăc trưng vốn có của sản phẩm phản ánh công dụng của sản phẩm đó. Trong từ điển tiếng việt phổ biến định nghĩa “ Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác”.
Khái niệm này thể hiện tính khách quan của chất lượng. Chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của các đặc tính của nó. 5 Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự đảm bảo đạt được và duy trì một tập hợp các tiêu chuẩn, quy cách hoặc yêu cầu đã được đặt ra từ trước. Những sản phẩm sản xuất ra có các tiêu chí, thước đo phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn đặt ra là sản phẩm có chất lượng.
Chẳng hạn như một công trình xây dựng có chất lượng khi hoàn thành đạt được đúng như những tiêu chuẩn đã được phê duyệt trong bản vẽ thiết kế về công năng, kích thước kiểu dáng, và những thông số an toàn.Quan niệm này giúp đưa ra hệ thống tiêu chuẩn khách quan để đo lường đánh giá chất lượng sản phẩm.Nguyễn Đình Phan. TS Đặng Ngọc Sự (2012), Quản trị chất lượng, nhà XB ĐHKTQD Trong nền kinh tế thị trường, người ta đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Những khái niệm chất lượng này xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả…Có thể gọi chúng dưới một nhóm chung là quan niệm “ Chất lượng hướng theo thị trường”. Đại diện cho các quan niệm này là những khái niệm chất lượng sản phẩm của các chuyên gia quản lý chất lượng hàng đầu thế giới như Philipp Crosby, Eward, Deming, Juran,.vv Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp được thống nhất, dễ dàng, tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ( ISO) đưa ra định nghĩa về chất lượng trong bộ tiêu chuẩn ISO9000 như sau “ Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các tính chất đặc trưng của thực thể có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hay tiềm ẩn”.
Theo TCVN 5814-1994: Chất lượng là tổng hợp các đặc tính của một vật thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó có khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn.2 Những khái niệm có liên quan đến sản phẩm xây dựng - Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình xây dựng hoàn chỉnh (bao gồm cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ bên trong). Sản phẩm đầu tư xây dựng là kết tinh của các thành quả khoa học - công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất định. Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực 6 lượng tham gia chế tạo sản phẩm chủ yếu: Chủ đầu tư, các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp; các doanh nghiệp tư vấn đầu tư xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào cho dự án như thiết bị công nghệ, vật tư thiết bị xây dựng, các doanh nghiệp cung ứng, các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tài chính, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan. - Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng chỉ bao gồm phần kiến tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng bao che, nâng đỡ và phần lắp đặt các thiết bị máy móc cần thiết của công trình để đưa chúng vào hoạt động.
- Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp, được tạo thành bởi vật liệu xây dựng, thiết bị công nghệ và gắn liền với mặt đất hay mặt nước.3 Chất lượng công trình xây dựng Thông thường, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng sản phẩm xây dựng, chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản sau: công năng, độ tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy; tính thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng; tính kinh tế và đảm bảo về thời gian( thời gian phục vụ của công trình). Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người thụ hưởng sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn đề liên quan. Một số vấn đề cơ bản trong đó là : - Chất lượng công trình xây dựng được hình thành ngay từ trong các giai đoạn đầu tiên của quá trình đầu tư xây dựng công trình đó. Nghĩa là vấn đề chất lượng xuất hiện và cần được quan tâm ngay từ trong khi hình thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu qui hoạch, lập dự án, đến khảo sát, thiết kế, thi công đến giai đoạn khai thác, sử dụng và rỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục vụ… thể hiện ở chất lượng của các sản phẩm trung gian như chất lượng qui hoạch xây dựng, chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng các dự toán, bản vẽ thiết kế… 7 - Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện; chất lượng của các công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình.
-Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng. -Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ công nhân, kỹ sư xây dựng. -Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình có thể phục vụ mà còn ở thời hạn phải hoàn thành, đưa công trình vào khai thác, sử dụng. -Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện các hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát,thiết kế,thi công xây dựng.
-Vệ sinh và bảo vệ môi trường.2 Khái niệm, vai trò quản lý chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng công trình xây dựng 1.1 Khái niệm về quản lý chất lượng Chất lượng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn, cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này. Hoạt động có phối hợp của một tổ chức nhằm định hướng và kiểm soát về chất lượng được gọi là quản lý chất lượng. Theo ISO 9000 “ Quản lý chất lượng là những hoạt động của các chức năng chung của quản lý, bao gồm các việc xác định chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, 8 kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ chất lượng.” Quản lý chất lượng là một khái niệm được phát triển và hoàn thiện liên tục, thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lượng và phản ánh sự thích ứng với điều kiện và môi trường mới.
Quan điểm đánh giá chất lượng của một số nước. - Nhật Bản : Quan điểm chất lượng là một yếu tố cạnh tranh, canh tranh chất lượng đã và dang thay thế cạnh tranh bằng giá cả. Để có chất lượng, có năng lực cạnh tranh trên thị trường người Nhật đã triệt để tuân thủ "yêu cầu đúng nơi, đúng lúc và đảm bảo tính nhất quán về chất lượng". Họ đã ứng dụng các phương pháp thống kê hiện đại để kiểm tra chất lượng.
Trong sự so sánh về chất lượng người Nhật không chỉ so sánh hoạt động với xí nghiệp cùng loại, cùng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu để từ đó rút ra các bài học mà còn so sánh ý kiến của khách hàng. Sự hài lòng của khách hàng được xếp lên hàng đầu. Theo quan điểm này, chất lượng là vấn đề tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, của thời đại và là một phạm trù rộng lớn gắn với nhiều khâu, nhiều công đoạn cả trước và sau khi sản phẩm ra đời - Anh: Quá trình phát triển kinh tế hiện đại gắn liền với với sự công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là nền tảng của sự tạo thành và không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá.