phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm ba chương: C ơ 1: Cơ sở lý luận về n ng c o ch t lượng c ng chức tại Ngân hàng C ơ 2: Thực trạng n ng c o ch t lượng c ng chức tại g n hàng hà nư c iệt m C ơ g 3: Giải pháp n ng c o ch t lượng c ng chức tại g n hàng hà nư c iệt m Luan van 7 C n 1 CƠ SỞ UẬN VỀ N NG C O CHẤT Ư NG CÔNG CHỨC TRONG NGÂN HÀNG 1. Một số khái niệm liên quan 1. Cô ứ Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2019 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [23, Tr. Thuật ngữ công chức nói chung, công chức cấp xã nói riêng theo quy định tại khoản 3, điều 4 “Luật công chức” được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, cụ thể “công chức c p xã là công dân Việt m được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân c p xã, trong biên chế và hưởng lương từ ng n sách nhà nư c” [18, Tr.
Như vậy công chức được xác định trên cơ sở tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của công chức mà được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức vụ chức danh thì được xác định là công chức. Phân lo i công chức Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức. Ngạch là một dấu hiệu đặc thù của công chức.
Bất cứ một người công chức nào sau khi được tuyển dụng chính thức đều được Luan van 8 xét vào ngạch nhất định. Căn cứ vào quá trình đào tạo, khả năng chuyên môn nghiệp vụ để phân loại công chức theo ngạch khác nhau và có chức danh tiêu chuẩn riêng. Người công chức muốn nhập ngạch hoặc lên ngạch cao hơn phải được xét chọn và qua thi tuyển. Căn cứ để xếp ngạch đối với công chức chủ yếu là do năng lực chuyên môn thể hiện qua văn bản bằng phản ánh qua đào tạo: như người không được đào tạo ch nh quy được tuyển vào làm công việc giản đơn thì xếp vào ngạch cán bộ công chức, những người được đào tạo bậc trung học thì xếp ngạch cán sự, còn chuyên viên đòi hỏi công chức phải đào tạo từ trình độ đại học trở lên.
Người công chức thuộc một ngạch nhất định nếu không được đào tạo để nâng lên trình độ cao hơn thì sẽ mãi giữ nguyên ngạch đó. Muốn chuyển nâng ngạch cao hơn thì người công chức phải có văn bằng cao hơn và phải đáp ứng đầy đủ điều kiện tiêu chuẩn để tham dự kỳ thi nâng ngạch như chuyên viên cao cấp và tương đương, chuyên viên ch nh và tương đương, cán sự và tương đương, công chức. Thực ra tên gọi các ngạch chỉ là quy ước. Vấn đề quan trọng là phải định rõ tiêu chuẩn cho từng ngạch để có căn cứ thoả đáng, xếp công chức vào ngạch nhất định.
Đồng thời, ta cũng có thể phân chia dựa vào vị trí công tác, chức vụ mà công chức được chia thành: công chức giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo và công chức không giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo. Công chức Ngân hàng Nhà nước được phân loại như sau: Phân loại theo trình độ đào tạo: Công chức loại A là những công chức có trình độ đào tạo chuyên môn từ bậc đại học trở lên phù hợp với công việc đảm nhiệm; Công chức loại B là những công chức có trình độ đào tạo chuyên môn ở bậc cao đẳng, trung học chuyên nghiệp phù hợp với công việc đảm nhiệm; Công chức loại C là những công chức có trình độ đào tạo chuyên môn ở bậc sơ cấp; Luan van 9 Công chức loại D là những công chức có trình độ đào tạo chuyên môn ở bậc dưới sơ cấp. Phân loại theo vị trí công tác gồm có: Công chức lãnh đạo (quản lý, điều hành): Được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo; Công chức chuyên môn nghiệp vụ. Ch t ng công chức Chất lượng công chức là tập hợp các yếu tố phản ánh chất lượng cá nhân mỗi công chức thông qua tiêu chuẩn công chức và được đánh giá dựa trên khung năng lực.
Khung năng lực là một tập hợp các năng lực hướng đến việc hoàn thành nhiệm vụ cho một công việc cụ thể. Khung năng lực có thể được xây dựng cho các công việc cụ thể, các nhóm công việc, tổ chức, ngành nghề hoặc các ngành, lĩnh vực. Khung năng lực có thể góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của một cơ quan, đơn vị do hạn chế được những quyết định tuyển dụng sai lầm, phát triển được đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, khuyến kh ch động lực làm việc, sự gắn bó với công việc của nhân viên và chuẩn bị nguồn lực cho mục tiêu dài hạn. Dựa vào đó, mỗi các cơ quan, đơn vị xây dựng một khung năng lực riêng phản ánh được đặc thù ngành nghề, lĩnh vực quản lý và định hướng phát triển nhân lực riêng.1: K un năn lực công chức Luan van 10 1.
N t ô ức Do tính chất đặc thù của các quốc gia có hệ thống pháp luật, thể chế chính trị khác nhau, khái niệm công chức cũng không hoàn toàn đồng nhất. Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi quản lý Nhà nước, thi hành pháp luật. Có nước quan niệm công chức bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan sự nghiệp thực hiện dịch vụ công. Nhìn chung, đa số các nước đều giới hạn công chức trong phạm vi bộ máy hành ch nh Nhà nước (chính phủ và các cấp chính quyền địa phương).
Những nhà chính trị hoạt động do bầu cử hay hoạt động trong các cơ quan sự nghiệp và cơ sở kinh doanh của Nhà nước không gọi là công chức Chất lượng công chức không hoàn toàn giống với chất lượng của các loại hàng hóa, dịch vụ, bởi con người là một thực thể phức tạp.Theo Chủ tịch Hồ Ch Minh, Người cho rằng người công chức có chất lượng thì phải hội đủ các tiêu chuẩn đức và tài, phẩm chất và năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phong cách, phương pháp công tác tốt trong đó phẩm chất, đạo đức là yếu tố hàng đầu. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải luôn rèn luyện người công chức, đảng viên có đủ đức và đủ tài, vừa hồng và vừa chuyên. Người luôn quan tâm, động viên và dìu dắt đội ngũ công chức, đảng viên để họ thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, ch nh, ch , công, vô tư. Đặt chữ “đức” lên hàng đầu, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn coi trọng cái “tài”.
Người nhìn nhận “đức” và “tài” trong mối quan hệ biện chứng, như hai mặt không thề tách rời trong một nhân cách hoàn thiện: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”, nhưng “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Theo đó, ch t lượng công chức ngành ngân hàng ở đ y được xem xét một cách toàn diện từ trình độ, năng lực; kỹ năng, phương pháp làm việc; hiệu quả thực thi công việc; phẩm ch t, đạo đức công chức; văn hó ứng xử cho đến sức khoẻ (thể ch t, tâm lý) của họ. Trong đó, yếu tố trình độ; yếu tố Luan van 11 hiệu quả thực thi công vụ và yếu tố phẩm ch t, đạo đức công chức được xem là quan trọng nh t để xem xét ch t lượng công chức ngân hàng. Nâng cao chất lượng công chức ngân hàng là vấn đề quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi mỗi cán bộ công chức không ngừng học hỏi, trao dồi kiến thức để nâng cao trình độ mới đáp ứng được xu thế của thời đại. Để công chức ngân hàng có chất lượng cao thì rất cần thiết phải làm tốt các khâu: Từ tuyển dụng; quy hoạch công chức, đào tạo và bồi dưỡng, sử dụng và đánh giá công chức. Ngân hàng c Tại Điều 1, nghị định 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Ch nh Phủ quy định “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang Bộ của Ch nh phủ, Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức t n dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Ch nh phủ”. Do đặc thù riêng nên cơ cấu Ngân hàng có 20 đơn vị gi p Thống đốc NHNN thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và chức năng NHTW, những người làm ở 20 đơn vị này gọi là công chức NHNN; 7 đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý của NHNN, những người làm ở 7 đơn vị này gọi là viên chức NHNN.
Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức NHNN về nguyên tắc thực hiện theo quy định của Luật cán bộ, công chức [6]. Các tiêu c í đánh giá chất l ợng công chức trong Ngân hàng Chất lượng công chức được thể hiện qua các mặt: Bản lĩnh ch nh trị, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn, năng lực công tác trong thực tiễn, tuổi tác, trình trạng sức khỏe. Dựa vào các yếu tố này tác giả đưa ra một số tiêu ch đánh giá chất lượng công chức NHNN như sau: Luan van 12 1. ó á t êu í đá á ă ự trì độ chuyên môn -Tiêu ch về trình độ văn hóa: Trình độ văn hóa là mức độ học vấn giáo dục mà công chức đạt được.