Chương 1. Cơ sở luận lý luận về chất lượng cho vay khách hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại. Thực trạng chất lượng cho vay khách hàng bán lẻ tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Hà Giang Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay khách hàng bán lẻ tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Hà Giang 8 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LUẬN LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát chung về hoạt động cho vay khách hàng bán lẻ 1. Khái niệm cho vay khách hàng bán lẻ - Khái niệm khách hàng bán lẻ Theo Khoản 8, Điều 3, Nghị định 23/2007/NĐ ngày 12/02/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Bán lẻ là hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng. Theo Phillip Kotler trong cuốn “Quản trị Marketing”, bán lẻ được định nghĩa như sau: “Bán lẻ bao gồm các hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không mang tính thương mại.” Như vậy khách hàng bán lẻ ở đây có thể được hiểu là cá nhân, những người tiêu dùng cuối cùng.
Trong luận văn này, tác giả chọn khái niệm khách hàng bán lẻ là các cá nhân, hộ sản xuất và doanh nghiệp siêu vi mô. Theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Cách phân chia này dựa trên tiêu chí số lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân hàng năm và tổng doanh thu của năm hoặc nguồn vốn. Theo như khái niệm trên, khách hàng bán lẻ đến vay vốn có thể được phân loại như sau: + Khách hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn phục vụ đời sống hoặc phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Khách hàng cá nhân là chủ hộ kinh doanh, có nhu cầu vay vốn phục vụ hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh. 9 + Khách hàng cá nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân, có nhu cầu vay vốn phục vụ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp tư nhân có doanh thu theo báo cáo tài chính năm liền kề dưới 20 tỷ đồng). + Doanh nghiệp siêu vi mô: là các doanh nghiệp có đầy đủ tư cách pháp nhân, doanh thu theo báo cáo tài chính năm liền kề dưới 20 tỷ đồng. - Khái niệm về hoạt động cho vay Điều 2, Thông tư 39/2016/TT NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất dịnh theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Đây là việc NHTM (bên cho vay) sẽ cung cấp nguồn tài chính cho khách hàng (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận. Ngoài khoản tiền gốc phải trả, bên vay phải trả cho bên cho vay lãi suất và các khoản phí khác (nếu có) liên quan đến khoản vay. Các nội dung về thời hạn hoàn trả, mục đích vay vốn, lãi suất, các điều kiện kèm theo để được vay vốn… sẽ được các bên đàm phán và thể hiện đầy đủ trong hợp đồng tín dụng. Các thỏa thuận cho vay giữa hai bên bị ràng buộc bởi quy định về cho vay của NHNN, cơ chế tín dụng nội bộ của mỗi NHTM, tính khả thi của phương án/dự án, khả năng tài chính và uy tín của khách hàng… Cho vay là giao dịch tài sản giữa NHTM với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó NHTM chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc, lãi và phí liên quan đến khoản vay (nếu có) cho NHTM khi đến hạn thanh toán.
Bằng hoạt động cho vay, ngân hàng có thể cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế đồng thời tối đa hoá hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình. - Khái niệm cho vay KHBL Cho vay khách hàng bán lẻ là hình thức cung cấp trực tiếp các sản phẩm cho vay có quy mô nhỏ cho khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp nhỏ. 10 Như vậy, theo quan điểm của tác giả, cho vay KHBL là hình thức cho vay đối với từng khách hàng cá nhân riêng lẻ, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, đầu tư và tiêu dùng đời sống. Từ khái niệm này cho thấy, cho vay KHBL khác với hoạt động cho vay thông thường là đối tượng cho vay là các KHCN, hộ gia đình và các DNNVV.
Mục đích của cho vay KHBL là để đáp ứng về nhu cầu SXKD, đầu tư và tiêu dùng. Đặc điểm cho vay khách hàng bán lẻ - Đối tượng khách hàng đa dạng, phức tạp: Đối tượng khách hàng của tín dụng bán lẻ là các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là các thành phần kinh tế năng động, nhạy bén, nhưng kém ổn định và thiếu bền vững trong kinh doanh. Những người có thu nhập cao thường có xu hướng vay nhiều hơn.
Với họ, việc vay mượn chỉ là công cụ để đạt được mức sống như mong muốn. Việc trả nợ cho ngân hàng cũng dựa trên ý thức trách nhiệm hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của khách hàng. - Nguồn trả nợ khó chứng minh, khả năng tài chính không ổn định, thiếu minh bạch: Khi nhận được một đơn xin vay của cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc đầu tiên là cán bộ tín dụng cần đánh giá khả năng trả nợ của đơn xin vay đó. Mức thu nhập và sự ổn định trong thu nhập hay phương án kinh doanh phục vụ cho đời sống gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu quả không là những thông tin rất quan trọng.
Nhiều khách hàng có nhu cầu vay vốn lại có mức thu nhập thấp dưới mức trung bình, việc làm và chỗ ở của họ ít ổn định, nếu cho đối tượng khách hàng này vay, ngân hàng có thể gặp rủi ro. Như vậy, việc đánh giá khả năng tài chính của một khách hàng là rất khó khăn, chất lượng thông tin tài chính thường không cao. - Quy mô khoản vay nhỏ lẻ, số lượng món vay nhiều, rủi ro cao nhưng phân tán được rủi ro: Cho vay bán lẻ chủ yếu cung cấp cho các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh nhỏ, đời 11 sống. Do vậy, các khoản vay này cần tiến hành các thủ tục vay qua nhiều khâu, việc quản lý khoản vay thường chắp vá và thời gian quản lý có thể kéo dài trong nhiều năm.
Nhu cầu được cấp cho vay bán lẻ của khách hàng chịu tác động mạnh và phụ thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế; tăng mạnh trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ sinh lời cao và ngược lại. - Tài sản đảm bảo phong phú, phức tạp về tính chất pháp lý: Do nhu cầu về đời sống, về sản xuất kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất phong phú và đa dạng nên tài sản đảm bảo trong cho vay bán lẻ cũng rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Ngân hàng có thể cho vay không có tài sản đảm bảo. Trong trường hợp này, sự đảm bảo cho khoản vay là sự tin tưởng vào chính ý thức trả nợ của người đi vay.
Ngân hàng có thể cho vay có tài sản đảm bảo là tài sản hình thành từ vốn vay. Trong trường hợp này, ngân hàng cần tiến hành các thủ tục vay và các thủ tục về tài sản đảm bảo phức tạp hơn. Ngoài hình thức đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay, ngân hàng cũng nhận tài sản của chính người đi vay hoặc của bên thứ ba. Dù ở trường hợp nào thì tài sản đảm bảo trong tín dụng bán lẻ cũng liên quan đến các cá nhân với nhiều mối quan hệ sở hữu phức tạp.
Do vậy, ngân hàng khi nhận tài sản đảm bảo đó cần làm rõ các mối quan hệ liên quan để tránh xảy ra tranh chấp. - Các khoản cho vay bán lẻ thường có chi phí vốn lớn và lãi suất cho vay cao: Cho vay bán lẻ thường là một trong các khoản mục tài sản mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, cho vay bán lẻ lại có chi phí lớn hơn chi phí cho cho vay bán buôn, với nhiều rủi ro. Do cho vay bán lẻ có nguồn cho vay cũng từ chính nguồn vốn huy động từ dân cư, do vậy lãi suất cho vay trong cho vay bán lẻ cũng cần phải cao tương ứng để bù đắp chi phí huy động vốn.
Các hình thức cho vay khách hàng bán lẻ Theo Trần Huy Hoàng và cộng sự (2011), có nhiều cách để phân chia sản phẩm cho vay KHBL thành các nhóm khác nhau. Cụ thể: - Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay, cho vay KHBL được phân làm hai loại, đó là cho vay tiêu dùng và cho vay sản xuất kinh doanh. 12 + Cho vay tiêu dùng: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp họ trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ, nhu cầu về y tế, giáo dục, du lịch….
+ Cho vay sản xuất kinh doanh: Là hình thức cho vay nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình, DNNVV. Thời gian cho vay bao gồm cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cho vay sản xuất kinh doanh cũng bao gồm hai hình thức là tín chấp và thế chấp. Đối với hoạt động cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh thường áp dụng hình thức thế chấp.
- Căn cứ vào thời hạn + Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các DNNVV và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.