CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NGHÈO ĐÓI VÀ BIẾN ĐỔI DIỆN TÍCH RỪNG 1. Quan niệm về mối quan hệ giữa nghèo đói và biến đổi diện rừng 1. Nghèo đói - Định nghĩa nghèo đói Nghèo đói là một phạm trù rất rộng và định nghĩa về nghèo đói có thể được hiểu không chỉ sự túng thiếu về mặt vật chất. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về nghèo đói của các cơ quan, tổ chức khác nhau.
Trong phạm vi luận văn sử dụng định nghĩa được đưa ra trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo của Việt Nam năm 2002: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương.1 - Các tiêu chí đánh giá nghèo đói Chuẩn nghèo (hay ngưỡng nghèo): Đây là một trong những thước đo quan trọng được sử dụng chủ yếu trong việc xác định tình trạng đói nghèo. Chuẩn nghèo là một mức độ phân chia ranh giới giữa “nghèo” và “không nghèo”. Tổng cục Thống kê (TCTK) định nghĩa về chuẩn nghèo như sau: Chuẩn nghèo là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người được dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo. Những người hoặc hộ có có thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo hoặc hộ nghèo.
Chuẩn nghèo còn chia ra chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm và chuẩn nghèo chung. 1 Tríc: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo năm 2002, trang 17 6 Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng hai chuẩn nghèo là chuẩn nghèo theo thu nhập và chuẩn nghèo theo chi tiêu. - Chuẩn nghèo theo thu nhập là mức thu nhập bình quân một người một tháng áp dụng để phân chia người nghèo và không nghèo. Chuẩn nghèo theo thu nhập được Chính phủ đưa ra theo từng giai đoạn phát triển và tách riêng biệt ở hai khu vực nông thôn và thành thị.
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 8 tháng 7 năm 2005, chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006 - 2010 là 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn, 260.000 đồng/người/tháng ở thành thị2 và được cập nhật biến động giá của các năm tương ứng. Hiện nay, Bộ LĐTB và XH đang trình Chính phủ dự thảo chuẩn nghèo mới áp dụng trong giai đoạn 2011 – 2015 là 400.000 đồng/người/tháng ở nông thôn, 500.000 đồng/người/tháng ở thành thị. - Chuẩn nghèo theo chi tiêu là mức chi tiêu bình quân một người một tháng, dùng để xác định người nghèo và không nghèo. Chuẩn nghèo theo chi tiêu được đưa ra bởi TCTK và Ngân hàng thế giới (WB) và không phân biệt giữa thành thị và nông thôn.
Tỷ lệ nghèo: Tỷ lệ nghèo được xác định bằng số lượng người nghèo trên tổng dân số, thể hiện quy mô số người nằm dưới chuẩn nghèo, và thường được biển hiện dưới dạng phần trăm. Tỷ lệ nghèo cũng chia ra tỷ lệ nghèo chung và tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm. Tỷ lệ nghèo chung là phần trăm số người có mức chi tiêu bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo chung, được tính theo công thức sau: 2 Nguồn: chinhphu.vn 7 Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm là phần trăm số hộ có mức thu nhập/ chi tiêu bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm, được tính theo công thức sau: Ngoài ra còn một số chỉ tiêu khác để đánh giá nghèo đói như: khoảng nghèo, độ sâu của nghèo đói … nhưng trong phạm vi nghiên cứu, luận văn không tập trung phân tích nên không được đề cập ở đây. Rừng và biến đổi diện tích rừng Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều định nghĩa khác nhau về rừng nhưng đều dễ thống nhất rừng là một hệ sinh thái với những đặc trưng chủ yếu : Rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong hệ thống đó; Rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng; Rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao; Rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác; Sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng.
Để thống nhất, luận văn sử dụng khái niệm rừng được đưa ra trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 như sau: “Rừng là một hệ sinh thái gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ 8 thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng3 từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”4. Phân loại rừng: Có rất nhiều cách phân loại rừng ở Việt Nam, mỗi cách phân loại lại có các loại rừng khác nhau. Theo Thông tư số: 34/2009/TT-BNNPTNT của Bộ NN và PTNT về cách phân loại rừng thì có các cách phân loại và các loại rừng như sau: - Phân loại rừng theo mục đích sử dụng: bao gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất.
- Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành: bao gồm: Rừng tự nhiên (gồm rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh), rừng trồng (gồm rừng trồng mới và rừng tái sinh sau khi khai thác). - Phân loại rừng theo điều kiện lập địa: bao gồm: Rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập nước. - Phân loại rừng theo loài cây,bao gồm: Rừng gỗ (rừng lá rộng, rừng lá kim và rừng hỗn giao), rừng tre nứa, rừng cau dừa, rừng hỗn giao gỗ và tre nứa - Phân loại rừng theo trữ lượng, bao gồm: Rừng rất giàu, rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo và rừng chưa có trữ lượng. Các tiêu chí đánh giá rừng và biến đổi diện tích rừng: Diện tích rừng hiện có: Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
Diện tích rừng hiện có là diện tích rừng tính tại thời điểm thống kê hoặc kiểm kê rừng. Độ che phủ rừng (hay tỷ lệ che phủ rừng): 3 Chú thích: Độ che phủ của tán rừng là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và diện tích đất rừng 4 Trích Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 9 Độ che phủ rừng là số đo tỷ lệ phần trăm diện tích có rừng so với diện tích tự nhiên của một vùng lãnh thổ. Độ che phủ rừng hàng năm là số đo đánh giá diện tích rừng tăng hay giảm trong một vùng lãnh thổ. Công thức để tính độ che phủ rừng: Trong đó: - Scr là diện tích có rừng - Smt là diện tích rừng trồng dưới 3 tuổi - Stn là tổng diện tích tự nhiên Theo TCTK, chỉ tiêu độ che phủ rừng (tính theo %) được tính hàng năm dựa trên số liệu về diện tích rừng hiện có và tổng diện tích đất tự nhiên.
Đây là chỉ tiêu phản ảnh tỷ lệ giữa diện tích rừng và diện tích đất tự nhiên. Chỉ tiêu này được tính cho cả nước và tất cả các tỉnh, thành phố có rừng. Diện tích rừng bị cháy: Diện tích rừng bị cháy là diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng bị cháy không còn khả năng khôi phục. Chỉ tiêu này không bao gồm diện tích rừng lau lách và diện tích rừng không có giá trị kinh tế bị cháy.
Diện tích rừng bị phá: Diện tích rừng bị phá là diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng bị chặt phá làm nương rẫy, lấy lâm sản, thổ sản hoặc chuyển đổi các mục đích khác mà không được cơ quan quản lý có thẩm quyền cho phép. Mối quan hệ giữa nghèo đói và biến đổi diện tích rừng Mối quan hệ giữa nghèo đói và rừng nằm trong một mối quan tâm lớn hơn đó là mối quan hệ chung giữa đói nghèo và môi trường, trong đó rừng và hệ sinh thái rừng là một thành phần của môi trường. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn tập 10 trung nghiên cứu mối quan hệ giữa nghèo đói và biến động diện tích rừng (bao gồm: tỷ lệ che phủ rừng, diện tích rừng bị cháy và diện tích rừng bị chặt phá). Nhìn chung, trên thế giới có những quan niệm rất khác nhau về mối quan hệ giữa đói nghèo và rừng.
Tuy nhiên, các quan niệm này tập trung vào hai hướng chính: - Nghèo đói là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng: Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á, các nguyên nhân chính của nạn phá rừng là do sức ép dân số đã làm gia tăng nhu cầu về các sản phẩm rừng (ADB: 2000). Theo ý kiến của De Koninck (1999), có bốn yếu tố cơ bản gây ra nạn phá rừng ở Việt Nam là: (1) một số dân tộc thiểu số dựa quá nhiều vào du canh du cư, (2) mở rộng đất làm nông nghiệp, (3) khai thác gỗ quá nhiều, (4) thu hoạch các sản phẩm rừng phục vụ cho nhu cầu sinh sống. Thực tế đã cho thấy người nghèo chủ yếu tập trung ở những vùng xa xôi hẻo lánh với điều kiện kiếm sống khó khăn và cũng là nơi có tỷ lệ rừng che phủ lớn nhất. Do tập quán du canh du cư của người dân vùng cao, họ chặt phá rừng để lấy đất canh tác.
Bên cạnh đó, họ khai thác các sản phẩm từ rừng (gỗ và lâm sản ngoài gỗ) một cách quá mức khiến cho rừng ngày càng bị tàn phá cả về số lượng và chất lượng. Thực tế không thể phủ nhận rằng đói nghèo khiến cho tình trạng phá rừng ngày càng trở nên căng thẳng hơn. - Tình trạng rừng cạn kiệt càng làm nghiêm trọng hơn vấn đề nghèo đói: Theo thống kê của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO), trên thế giới có khoảng 1.