Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa Trên thế giới, vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa và mối quan hệ giữa chúng đã được nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau bởi các nhà khoa học, nhà hoạt động văn hóa và các tổ chức quốc tế: Năm 1972, nhà sử học nổi tiếng người Anh Arnold Tonybee với tác phẩm “Nghiên cứu về lịch sử - một cách thức diễn giải” (Nxb Thế giới, Hà Nội, 2002), một công trình đồ sộ 12 tập từ năm 1934 – 1972. Đây là một công trình tổng hợp và so sánh các nền văn minh, đồng thời là một tác phẩm trình bày quan điểm hiện đại về lịch sử. Tác giả khảo sát 31 nền văn minh trên thế giới, trong đó có Việt Nam từ thời tiền sử đến nay.
Theo quan điểm này, ông cho rằng, văn hóa chính là động lực của sự phát triển. Tác phẩm “Giáo dục - của cải nội sinh” do J. Dolo chủ biên đã khẳng định đi vào thế kỷ XXI, vấn đề giáo dục sẽ nổi lên hàng đầu, nhân cách văn hóa được hình thành trong giáo dục là nội dung cốt lõi được đề cập tới trong thời đại ngày nay. Năm 2003, Hội nghị bàn tròn các Bộ trưởng giáo dục họp ngày 09-10/10/2003 tại trụ sở UNESCO ở Paris đã đưa ra thông cáo “Hướng tới các cộng đồng tri thức”.
Thông cáo nhấn mạnh, xã hội tri thức là con đường nhân văn hóa quá trình toàn cầu hóa, bảo đảm quyền con người, nhân phẩm và đoàn kết với nguyên tắc: tự do ngôn luận, mọi người được tiếp cận với thông tin và tri thức, tôn trọng nhân phẩm, đa dạng văn hóa, đa dạng ngôn ngữ, giáo dục có chất lượng cho mọi người, đầu tư vào khoa học và công nghệ, chấp nhận thông hiểu các hệ thống tri thức khác nhau. Nhà tương lai học Alvin Toffler cho rằng lịch sử phát triển của xã hội loài người là sự thay thế các nền văn minh với bộ ba tác phẩm “Thăng trầm quyền lực”, “Cú sốc tương lai” “Làn sóng thứ ba” (Nxb Thanh niên, 2002). Sau khi phân chia tiến trình lịch sử của nhân loại thành các giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau dựa vào yếu tố công cụ kỹ thuật trong nền sản xuất với ba làn sóng văn minh: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh tin học mà sự phát triển của tri 5 thức có vai trò quyết định. Bằng những luận chứng sâu sắc, A.
Toffler đã làm rõ về tri thức, quyền lực, chủ thể quyền lực, phẩm chất các loại quyền lực trong truyền thống, từ quyền lực bạo lực đến quyền lực của cải, cho đến quyền lực của tương lai – quyền lực tri thức. Từ đó, tác giả chỉ ra sự trỗi dậy của một quyền lực trên quy mô toàn cầu – quyền lực tri thức - nguồn gốc của mọi phương thức sáng tạo của cải mới làm thay đổi lịch sử nền văn minh vật chất, văn minh tinh thần của nhân loại trong thời đại ngày nay và trong tương lai. Tư tưởng của ông đã tuyệt đối hóa vai trò của tri thức trong sự phát triển xã hội. Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, đã diễn ra nhiều biến cố trong đời sống chính trị quốc tế.
Nhà chính trị học người Mỹ Samuel P.Huntington đã viết cuốn sách “Sự va chạm của các nền văn minh” (Nxb Lao động, Hà Nội, 2003), đề cập tới sự đụng độ của các nền văn minh sẽ là diễn biến cuối cùng của xung đột toàn cầu trong thế giới hiện đại. Sau Chiến tranh lạnh, thế giới không phân chia thành Bắc – Nam, Đông – Tây theo hệ tư tưởng mà gắn với các nền văn minh. Sự thống trị của các nước phương Tây trên nhiều lĩnh vực bắt đầu suy giảm, nhường chỗ cho sự phát triển của nhiều nước, đặc biệt là châu Á, trong đó có Việt Nam. Mối liên hệ giữa các quốc gia được hình thành trên một nền tảng mới.
Những tranh chấp về sắc tộc, tôn giáo, phong trào tôn giáo cực đoan, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phân hóa giàu nghèo… Như vậy, nguồn gốc của các xung đột không còn là kinh tế nữa mà chuyển sang là văn hóa với bản sắc riêng biệt của các quốc gia dân tộc. Theo đó, các quốc gia cần có những chính sách văn hóa phù hợp. Friedman trong tác phẩm “Chiếc Lexus và cây Ôliu” đã đưa ra cái nhìn xuyên suốt về hệ thống quốc tế mới đang làm biến đổi tình hình thế giới hiện nay. Toàn cầu hóa đã thay thế Chiến tranh lạnh, mang lại sự hội nhập về tư bản, công nghệ, thông tin xuyên qua biên giới quốc gia.
Qua những câu chuyện và những chuyến đi khắp nơi, ông đã mô tả cặn kẽ sự xung đột giữa chiếc Lexus và cây Ôliu – tượng trưng cho quan hệ căng thẳng giữa hệ thống toàn cầu hóa hiện đại với những sức mạnh văn hóa, địa lý, truyền thống và cộng đồng từ ngàn xưa. Tác giả mô tả cặn kẽ sự chống đối mãnh liệt do toàn cầu hóa gây ra cho những con người bị thua thiệt. Ông cũng nói rõ những gì chúng ta cần làm để cân bằng giữa chiếc Lexus 6 và cây Ôliu – nghĩa là cân bằng giữa toàn cầu hóa với văn hóa truyền thống. Đây đồng thời là vấn đề chung của mọi quốc gia, dân tộc.
Bởi lẽ, không một đất nước nào, cộng đồng người nào có thể đứng ngoài vòng xoáy toàn cầu hóa. Công trình “Economics and Culture” (Kinh tế và văn hóa, Cambridge University Press, 2001) David Throsby đã nghiên cứu mối quan hệ của hai lĩnh vực rất khác nhau, kinh tế và văn hóa. Công trình xem xét cả hai khía cạnh kinh tế của hoạt động văn hóa, và bối cảnh văn hóa của kinh tế và hành vi kinh tế. Tác giả bàn về sản phẩm văn hóa có giá trị cả về kinh tế và văn hóa, giới thiệu các khái niệm vốn văn hóa và tính bền vững, thảo luận về sự sáng tạo trong việc sản xuất các sản phẩm văn hóa và dịch vụ, văn hóa trong phát triển kinh tế, các ngành công nghiệp văn hóa và chính sách văn hoá.
Từ đó, ông khẳng định văn hóa là nguồn lực trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Cuốn sách “The Economics of Cultural Policy” (Kinh tế học về chính sách văn hóa, Cambridge, Cambridge University Press, 2010) David Throsby cho rằng sự hiểu biết về bản chất của cả kinh tế và giá trị văn hóa được tạo ra bởi khu vực văn hóa là điều cần thiết để làm chính sách hiệu quả. Ông phê phán các chính sách văn hóa truyền thống, nặng về hỗ trợ tài chính cho nghệ thuật, cho di sản văn hóa, thể chế kinh viện như bảo tàng, triển lãm. Chính sách văn hóa đang thay đổi, chú trọng vào những ngành công nghiệp sáng tạo.
Muốn xây dựng chính sách tốt cần dựa vào quan điểm giá trị kinh tế và giá trị văn hóa đều được tạo bởi lĩnh vực văn hóa. Cuốn sách là tài liệu tổng quát đầu tiên về ứng dụng của lý thuyết kinh tế và phân tích cho các lĩnh vực rộng lớn của chính sách văn hoá. Ở Việt Nam vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa cũng được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong những thập kỷ gần đây: Công trình KX.05-01 “Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn hóa con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” (2006), Hồ Sỹ Quý làm chủ nhiệm đã chỉ rõ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam trong nghiên cứu về phát triển văn hóa, con người trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Công trình phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người; mối quan 7 hệ giữa văn hóa với con người của một số nhà tư tưởng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trường Tộ; một số đức tính quý báu của người Việt Nam: cần cù, hiếu học, thông minh, đoàn kết, nghĩa tình…; đồng thời khái quát bộ công cụ đo lường chỉ số phát triển con người của UNDP, chỉ số phát triển của con người Việt Nam; phân tích sự tác động của khoa học và công nghệ tới sự phát triển của văn hóa.
Công trình “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” (2008) của Trần Thọ Đạt (chủ biên), Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân đã nghiên cứu và khái quát về mặt lý luận các mô hình tăng trưởng kinh tế vĩ mô nổi tiếng nhất trên thế giới, từ truyền thống tới hiện đại. Tác giả nghiên cứu thực nghiệm tăng trưởng kinh tế chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển, nguồn lực tăng trưởng kinh tế của thời kỳ đầu công nghiệp hóa. Đồng thời công trình giải thích một số “thần kỳ” trong tăng trưởng ở Đông Á và đi vào phân tích các nguồn tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1986 – 2002. Công trình “Tác động của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Việt Nam” (2008) của Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân nghiên cứu về vai trò và tác động của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu chủ yếu được thể hiện trong cuốn sách đã khẳng định vốn con người là một trong những yếu tố quan trọng nhất của nhân tố đầu vào trong tăng trưởng; định nghĩa về tăng trưởng kinh tế và các nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế, áp dụng hàm sản xuất mở rộng để kiểm chứng vai trò của con người đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2000 – 2004 ở Việt Nam. Công trình “Một số vấn đề cần quan tâm trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” của Đỗ Huy trên Tạp chí Triết học, số 12 năm 2009 đã phân tích sáu vấn đề bức xúc cần chú ý trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta hiện nay.