CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do nghiên cứu Trên thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng vấn đề được nhà đầu tư quan tâm hiện nay chính là việc xác định được mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi của chứng khoán. Dựa vào mối quan hệ trên nhà đầu tư sẽ đưa ra đước quyết định nên bán hay mua chứng khoán trong danh mục. Đứng dưới gốc độ là người huy động vốn, doanh nghiệp cũng phải cân nhắc giữa cái giá mà doanh nghiệp phải trả để có được nguồn tài trợ cho những dự án đầu tư mới và tỷ suất sinh lợi mà chúng mang lại. Nếu rủi ro dự án quá cao và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra quá lớn thì lúc này nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một tỷ suất sinh lợi cao hơn do nhận thấy được rủi ro của dự án.
Vì thế nghiên cứu rủi ro và tỷ suất sinh lợi là mối quan tâm hàng đầu trước khi tiến hành cơ hội đầu tư nào đó. Các bài nghiên cứu trước đây đã tìm ra được mối quan hệ giữa rủi ro, cơ hội tăng trưởng và giá trị doanh nghiệp thông qua hệ số Tobins’Q. Vì thành công của các nghiên cứu giúp cho doanh nghiệp tạo ra các cơ hội tăng trưởng mới trong tương lai hay nói cách khác giúp công ty có nhiều quyền chọn tăng trưởng hơn. Vấn đề đặt ra ở đây là công ty nên lựa chọn việc đánh đổi giữa tăng trưởng để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp hay doanh nghiệp phải gánh chịu rủi ro do tăng trưởng quá nóng.
Nhận thấy rằng thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường tiềm năng mở ra một kênh huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp, thay thế một phần kênh huy động từ ngân hàng như trước đây. Thị trường cũng mở ra những kênh đầu tư hấp dẫn mang tính chất mạo hiểm cho các nhà đâu tư chấp nhận rủi ro để nhận được tỷ suất sinh lợi như mong muốn. Như vậy với thị trường cổ phiếu mang nhiều nét đặc trưng như Việt Nam như sở hữu nhà nước cao trong các công ty niêm yết, các vấn đề về bất cân xứng thông tin… thì mối quan hệ giữa rủi ro, tăng trưởng và giá trị doanh nghiệp có tuân theo mô hình được đề xuất trên thế giới hay không? Từ đó nhu cầu tìm hiểu về quan hệ giữa rủi ro và giá trị doanh nghiệp để hỗ trợ nhà đầu tư có cơ sở tin cậy dùng để định giá tài sản tài chính càng trở thành một nhu cầu thiết yếu. 4 Chính vì lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu quan hệ rủi ro và giá trị công ty: trường hợp thị trường cổ phiếu thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sĩ của mình.2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu mối quan hệ giữa rủi ro và giá trị doanh nghiệp thông qua hệ số đại diện Tobins’Q.
Từ đó tiến hành kiểm định mối quan hệ trên nhằm rút ra những kết luận và khuyến nghị trên thị trường cổ phiếu Việt Nam. Theo đó bài nghiên cứu sẽ tập trung làm rõ các vấn đề sau: Thứ nhất, đề tài làm rõ mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và rủi ro tổng thể được đo lường bằng độ biến động của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu công ty và được xét trên nhiều danh mục khác nhau được chia theo qui mô công ty, công ty có chi phí R&D, đòn bẩy tài chính… Thứ hai, nếu tồn tại mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và rủi ro thì mối quan hệ giữa rủi ro phi hệ thống và rủi ro hệ thống là như thế nào? Rủi ro nào đóng vai trò quan trọng hơn trong mối quan hệ giữa rủi ro tổng thể và giá trị doanh nghiệp? Thứ ba, xem xét yếu tố nào quyết định mối quan hệ giữa rủi ro và giá trị doanh nghiệp.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro và giá trị doanh nghiệp thông qua việc làm rõ mối quan hệ giữa hệ số Tobins’Q và rủi ro được đo lường bằng tỷ suất sinh lợi cổ phiếu công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2013. Tuy nhiên mẫu được chọn chủ yếu là các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh do thời gian hoạt động của Sở giao dịch TP.
Hồ Chí Minh dài hơn so với Sở giao dịch Hà Nội nên sẽ cung cấp các chuỗi dữ liệu dài hơn trong việc phân tích thống kê. Hơn thế nữa Sở giao dịch Hồ Chí Minh có quy mô lớn hơn nên kết quả phân tích có thể từ đó đại diện cho thị trường Việt Nam.4 Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tác giả sử dụng trong bài là phương pháp hồi quy dữ liệu bảng. Trong đó thực hiện các kiểm định như kiểm định lựa chọn mô hình cho dữ liệu bảng giữa các mô hình Fixed Effect, Random Effect và Pooled Regression. Tiếp theo, để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của mô hình được lựa chọn tác giả thực hiện kiểm định đa cộng tuyến, phương pháp tự tương quan và hiện tượng phương sai thay đổi.
Dữ liệu được sử dụng để hồi quy thông qua dữ liệu thứ cấp thu nhập từ các website chứng khoán, tài chính cũng như số liệu được thu nhập từ báo cáo tài chinh hợp nhất đã thông qua kiểm toán của 109 công ty phi tài chính được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE với 654 quan sát trong giai đoạn sáu năm từ năm 2008-2013. Các biến được tính toán xử lý bằng chương trình Microsoft Office Excel 2007 và phần mềm thống kê Stata 11 để phân tích và chạy hồi quy dữ liệu.5 Ý nghĩa đề tài Trong chu kì sống của doanh nghiệp, giai đoạn tăng trưởng là giai đoạn đòi hỏi công ty phải nỗ lực trong công cuộc phát triển cũng như mở rộng đầu tư, chính từ những thành công đó khiến cho doanh nghiệp mở rộng và từ đó có nhiều cơ hội tăng trưởng hơn tạo ra cho chính mình nhiều quyền chọn tăng trưởng. Nói cách khác quyền chọn tăng trưởng trong giai đoạn này sẽ giúp cho doanh nghiệp có một bước tiến mới, doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thì giá trị doanh nghiệp tăng cao , tuy nhiên nếu tăng trưởng quá nhanh quá nóng sẽ đẩy doanh nghiệp đến rủi ro cao. Vì vậy, tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro, tăng trưởng và giá trị doanh nghiệp thông qua làm rõ mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp và rủi ro được đo lường bằng tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của công ty nhằm giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng quát hơn để đưa ra quyết định đánh đổi sao cho phù hợp với tình hình của doanh nghiệp mình nhất.
Thêm vào đó, từ những phân tích thực nghiệm được tiến hành trong luận văn cho thấy rủi ro tổng thể của các công ty trên thị trường chứng khoán HOSE là khá cao do bị tác động bởi những hạn chế cơ bản của thị trường 6 như: vấn đề thông tin, đầu tư theo hành vi bầy đàn chi phối hoạt động đầu tư trên thị trường… 1.6 Nội dung nghiên cứu Cấu trúc luận văn gồm những phần sau: Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong phần này tác giả làm rõ lý do chọn đề tài từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu đặt ra cũng như phương pháp nghiên cứu, bên cạnh đó nêu lên ý nghĩa khoa học của nghiên cứu mang giá trị thực tế ở Việt Nam. Chương 2: Tổng quan nghiên cứu trước đây, phần này tác giả đưa ra các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa rủi ro và giá trị doanh nghiệp, từ đó tác giả xây dựng lý thuyết nền tảng cho bài mình và rút ra cơ sở lý luận cho nghiên cứu của tác giả ở Việt Nam. Chương 3:Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, trong phần này tác giả sẽ giới thiệu giả thuyết của bài nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, thảo luận về dữ liệu và phạm vi nghiên cứu, cỡ mẫu, các đo lường các biến trong bài. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, phần này tác giả trình bày tất cả các kết quả thu được từ quá trình phân tích dữ liệu và kết quả hồi quy của những công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phần này giải quyết các mục tiêu nghiên cứu được đề ra đồng thời tác giả cũng thảo luận kết quả thu được và so sánh với các nghiên cứu khác đã trình bày trong chương 2. Chương 5: Kết luận, ở phần này tác giả đúc kết lại kết quả nghiên cứu của mình và khẳng định mối quan hệ giữa rủi ro và giá trị doanh nghiệp. Nêu ra những điểm còn hạn chế về nghiên cứu của mình để làm tiền đề cho nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP Nghiên cứu lý thuyết về rủi ro và tỷ suất sinh lợi chứng khoán trên thị trường tài chính là tiền đề cho việc phát triển các nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro và giá trị doanh nghiệp.
Đầu tiên phải kể đến lý thuyết danh mục Harry Markowitz, công bố vào năm 1952, lý thuyết này nói rằng các nhà đầu tư phân bổ tài sản của họ dựa trên sử đánh đổi giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi, hơn thế nữa tỷ suất sinh lợi của các tài sản không tương quan dương hoàn hảo nên khi kết hợp lại với nhau thì độ lệch chuẩn của danh mục sẽ thấp hơn độ lệch chuẩn trung bình các tài sản. Lý thuyết danh mục của Markowitz đã tạo ra đường biên hiệu quả và các nhà đầu tư sẽ lựa chọn cho mình một danh mục phù hợp nhất trên đường biên đó. Tiếp theo là lý thuyết này là mô hình định giá tài sản vốn CAPM – Capital Asset Pricing Model, mô hình CAPM dựa trên nền tảng của lý thuyết danh mục bổ sung thêm giả định là tồn tại một tài sản phi rủi ro trong nền kinh tế và các nhà đầu tư có thể vay hoặc đi vay với lãi suất phi rủi ro của tài sản này. Theo đó việc những cổ phiếu riêng lẻ di chuyển như thế nào với toàn bộ thị trường sẽ xác định tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của nó.
Trong mô hình CAPM rủi ro hệ thống đáng quan tâm hơn so với rủi ro phi hệ thống, do tính cấp thiết về một mô hình định giá tài sản lúc bấy giờ mà CAPM nhận được nhiều sự quan tâm của cả giới nghiên cứu khoa học.