CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Trong phần tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài, tác giả phân loại các nghiên cứu theo nhóm như nhóm các nghiên cứu liên quan đến các khái niệm và vai trò của tính thận trọng, nhóm nghiên cứu liên quan đến các biến trong mối quan hệ của tính thận trọng và đầu tư, nhóm nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ của tính thận trọng trong kế toán đến hành vi đầu tư, từ đó đưa ra một số nhận xét và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. *Nhóm nghiên cứu liên quan đến các khái niệm và vai trò về tính thận trọng: [1] Nghiên cứu của Watts, R. Conservatism in accounting part: explanations and implications. Accounting Horizons, Vol.
Nghiên cứu của Watts, R. (2003) về “Tính thận trọng trong kế toán, Phần I: Sự giải thích và ý nghĩa hàm ý” tác giả trình bày các khái niệm về tính thận trọng, những quy định và thiết lập các tiêu chuẩn có liên quan. Đồng thời tác giả phát triển hợp đồng chung để giải thích cho tính thận trọng gồm những giải pháp hạn chế sự ràng buộc về cổ tức trong hợp đồng nợ (Watts 1993), dự đoán rằng cũng có một số hợp đồng khác được thực hiện trong công ty như hợp đồng bồi thường về quản lý cũng sẽ đưa đến tính thận trọng trong mức độ hợp đồng. Bài nghiên cứu của Watts cũng đưa ra nhận định mới rằng nếu không có những cân nhắc về hợp đồng thì quan điểm thông tin sẽ tạo ra tính thận trọng khi chi phí thông tin thay đổi và hành vi quản lý được đưa ra.
Nếu như phần I trong nghiên cứu của Watts (2003) trình bày các khái niệm về tính thận trọng, những quy định và thiết lập các tiêu chuẩn có liên quan thì phần II trong nghiên cứu này lại tóm tắt những bằng chứng về tính thận trọng, đánh giá khả năng của bằng chứng để phân biệt tính thận trọng và sự không thận trọng, sự gia tăng của tính thận trọng theo thời gian. Watts cũng cảnh báo các nhà nghiên cứu nên lưu ý rằng ảnh hưởng của kế toán đối với hành vi quản lý đóng vai trò trung tâm trong sự tiến triển của kế toán đối với hành vi quản lý đóng vai trò quan trọng trong sự phát 8 triển của báo cáo tài chính. Việc đánh giá sự phù hợp của phương pháp kế toán với quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính đòi hỏi phải đánh giá khả năng của các nhà quản lý trong việc có sử dụng các phương pháp kế toán để thao túng số liệu và gian lận. Cần có những biện pháp cụ thể để kiểm chứng lại sự bất cân xứng về thông tin nhằm hạn chế gian lận.
Mặt khác Watts (2003) lại nhấn mạnh tính thận trọng trong kế toán bắt nguồn từ nhu cầu hợp đồng và chịu ảnh hưởng từ các quy định của pháp luật. Vấn đề về mức lợi nhuận phân phối giữa cổ đông, nhà quản lý, và chủ nợ bên trong một công ty được xem như là hợp đồng quan trọng nhất của tính thận trọng trong kế toán. *Nhóm nghiên cứu liên quan đến các biến trong mối quan hệ của tính thận trọng và đầu tư: [1] Nghiên cứu của Basu. The conservatism principle and the asymmetric timeliness of earnings.
Journal of Accounting and Economics, Vol. Bằng việc sử dụng mô hình hồi quy ngược và hệ số độ dốc R giống như nghiên cứu của Beaver và cộng sự (1980), Basu (1997) đã kiểm tra các giả thiết của mình nhằm làm rõ vai trò của tính thận trọng và sự bất cân xứng thông tin theo thời gian, thông qua tất cả các quan sát năm của công ty phi tài chính từ năm 1963 đến 1990 với dữ liệu từ CRSP NYSE/AMEX và các dữ liệu kế toán cần thiết. Bài nghiên cứu đưa ra bằng chứng chứng minh những ảnh hưởng của tính thận trọng đối với báo cáo tài chính, tính thận trọng làm cho thu nhập phản ánh những tin xấu nhanh hơn tin tốt, chính vì báo cáo tài chính cần những bằng chứng chặt chẽ hơn cho việc ghi nhận “tin tốt” hơn là việc ghi nhận “tin xấu”, hơn thế Basu (1997) còn tin rằng ảnh hưởng của tính thận trọng trong thực tiễn kế toán đã được duy trì ít nhất trong 500 năm. Kết quả nghiên cứu chứng minh được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, ngoài ra nó còn làm rõ được tính thận trọng được thực hiện bằng cách thông qua các khoản mục dự phòng, từ đó có những khác biệt có thể dự đoán được về tài sản của dòng tiền và thu nhập.
Những bằng chứng này cũng bổ sung việc mức độ nhạy cảm của thu nhập đối 9 với các tin xấu thông qua tính thận trọng đã tăng lên theo thời gian, sự gia tăng này đồng nghĩa với việc trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên cũng cần tăng theo thời gian. Thêm vào đó trong nghiên cứu của Basu (1997) cũng trình bày biến CFO (dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh) sử dụng trong mô hình hồi quy ngược và tương quan dương. [2] Nghiên cứu của Givoly, D. The changing time-series properties of earnings, cash flows and Accruals: has financial accounting become more conservative? Journal of Accounting and Economics, Vol.
Bài nghiên cứu phát triển và cung cấp bằng chứng về sự thay đổi trong các thuộc tính của thu nhập, tiền mặt, các khoản tạm ứng, cho thấy mối quan hệ giữa thu nhập kế toán và hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp không ổn định theo thời gian, thêm vào đó kết quả của một số bài nghiên cứu cho thấy tính thận trọng đang ngày càng cần thiết và gia tăng trong báo cáo tài chính. Nghiên cứu này sử dụng mẫu rất lớn gồm các công ty phi tài chính từ giai đoạn 1950 đến 1998, tính thận trọng trong thu nhập dựa trên các khoản mục được trích trước được Givoly và cộng sự (2000) tính dựa trên lợi nhuận hoạt động của năm hiện tại, khấu hao tài sản cố định của năm hiện tại, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của năm hiện tại trên giá trị sổ sách của tổng tài sản. [3] Nghiên cứu của Liu và cộng sự 2003. The principle of ultimate ownership, ownership structure and corporate performance.
Economic Research Journal, No. Kết quả của bài nghiên cứu này cho rằng hầu hết quyền sở hữu của các công ty niêm yết tại Trung Quốc chủ yếu do các cổ đông lớn năm giữ, hơn thế nữa việc phân bổ cơ cấu và tính chất quyền sở hữu thường được nắm giữ bởi các cổ đông lớn và phản ánh các vấn đề thông tin, vấn đề ủy nhiệm ở các mức độ khác nhau. Bài nghiên cứu cũng chi ra rõ biến mức độ tập trung quyền sở hữu và biến hạn chế quyền sở hữu, hai biến này được xem như là biến thay thế cho thông tin và các vấn đề ủy nhiệm mà doanh 10 nghiệp đang đối mặt. Mặt khác, nghiên cứu của La Forta và cộng sự (2002) cho rằng việc tăng mức độ tập trung vốn chủ sẽ giúp giảm thiểu được vấn đề phân chia quyền sở hữu và kiểm soát.
[4] Nghiên cứu của Bushman, R., và cộng sự 2008. Investment-cash flow sensitives are really capital investment-working capital investment sensitivities, working paper Kenan-Flagler Business School, University of North Carolina at Chapel Hill, University of Chicago and Yale School of Management, available at: http://papers.com/sol3/papers.cfm?abstract id=842085 Nhóm tác giả phát triển một lý luận tập trung vào cấu trúc cơ bản của biến dòng tiền, làm rõ được sự nhạy cảm của dòng vốn đầu tư dùng tiền mặt. Nghiên cứu thực nghiệm chính của nhóm tác giả này sử dụng mô hình hồi quy theo cách tiếp cận Hiệu ứng cố định của Fama-MacBeth (2001), tiếp theo đó nhóm tác giả có điều chỉnh lại để phù hợp với mô hình của mình. Theo đó, chu kỳ lấy mẫu từ 1971 đến 2003, dữ liệu lấy mẫu trong 5 năm liên tiếp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến dòng tiền được sử dụng trong việc ước tính độ nhạy cảm của dòng vốn đầu tư có ý nghĩa tích cực và tương quan dương, biến CFO trong mô hình này tương quan âm, cung cấp bằng chứng về mối quan hệ cơ bản giữa chi phí vốn và những thay đổi của vốn lưu động. [5] Nghiên cứu của García Lara và cộng sự 2010. Accounting conservatism and firm investment efficiency. Review of Accounting Studies (in press).
García Lara và cộng sự (2010) áp dụng mô hình nghiên cứu gốc của Biddle et al, (2009) và có điều chỉnh cho mô hình nghiên cứu của mình về mối quan hệ giữa tính thận trọng tác động lên hiệu quả đầu tư. Bài nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu trong 48 nhóm ngành công nghiệp tại Mỹ, sử dụng tối thiểu là 20 quan sát cho mỗi ngành công nghiệp trong giai đoạn từ 1990- mẫu quan sát công ty theo năm với dữ liệu sẵn có để chạy thử nghiệm mô hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy có tồn tại độ nhạy cảm dương của tính thận trọng đến quyết định đầu tư; hơn thế nữa tính thận trọng có thể làm giảm được sự bất cân xứng về thông tin, từ đó gia tăng các quyết định đầu tư đúng đắn. Trong kết quả nghiên cứu này, tính thận trọng còn giúp giảm thiểu những 11 quyết định cho những dự án đầu tư kém hiệu quả, từ đó tạo điều kiện tiếp cận với nguồn tài chính từ bên ngoài với chi phí thấp hơn.
Ngoài ra, các biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu bao gồm CFO, Đòn bẩy mang tương quan dương, bên cạnh đó biến Quy mô lại mang tương quan âm. [6] Nghiên cứu của Xiaodong Xu, Xia Wang, Nina Han. Accounting conservatism, ultimate ownership and investment efficiency, China Finance Review International, Vol. Xiaodong Xu và các cộng sự (2012) nghiên cứu về “Tính thận trọng trong kế toán, Quyền kiểm soát công ty và Hiệu quả đầu tư”.
Mục đích của bài nghiên cứu này là phân tích và kiểm tra vai trò của tính thận trọng trong kế toán của hành vi đầu tư tại Trung Quốc. Đồng thời bài nghiên cứu cũng cho thấy mối liên hệ giữa thận trọng trong kế toán và chi phí vốn có tích cực đáng kể khi vốn nội bộ không đủ để sử dụng cho đầu tư, tính thận trọng có thể làm tăng mức độ đầu tư bằng cách giảm thiểu sự bất cân xứng về thông tin và chi phí vốn; tuy nhiên, mối liên hệ giữa tính thận trọng trong kế toán và chi phí vốn thì tiêu cực đáng kể khi vốn nội bộ đủ để dùng cho việc đầu tư, thận trọng có thể rút ngắn mức độ đầu tư bằng cách làm giảm thiểu xung đột lợi ích giữa người quản lý và cổ đông bên ngoài với việc giảm thiểu chi phí ủy nhiệm.