Chương 1 – Tổng quan bản. Mỗi mô hình truy xuất khác nhau sẽ giải quyết hai vấn đề này theo những cách khác nhau.1 Mô hình Vector (Salton, Wong and Yang 1975) Mô hình vector có đặc điểm sau [95]: - Dùng cấu trúc Bag of Word – BOW, có dạng của một vector nhiều chiều để biểu diễn văn bản. Mỗi chiều trong không gian tương ứng với một term. - Phương pháp phân tích văn bản hoặc câu truy vấn là tách các term trong văn bản hoặc câu truy vấn, sau đó xác định số lần xuất hiện của nó trong văn bản và trong tập văn bản để tính toán trọng số của nó.
Giá trị trọng số của mỗi term là giá trị của chiều tương ứng trong vector biểu diễn văn bản hoặc câu truy vấn đó. - Phương pháp so khớp văn bản và câu truy vấn là tính toán khoảng cách giữa hai vector biểu diễn của văn bản và câu truy vấn. Khoảng cách giữa hai vector có thể được tính theo các chuẩn (metric) khác nhau, chẳng hạn Euclide, Cosine, Jaccard, v. Văn bản được biểu diễn mô hình vector là một vector thưa và chưa thể hiện được mối liên hệ giữa các term thường xuất hiện cùng nhau.
Vì thế, phương pháp phân tích ngữ nghĩa tiềm ẩn, Latent Semantic Analysis – LSA [56], [25], được áp dụng trên ma trận biểu diễn các vector văn bản theo cột để giảm số chiều. Kết quả khi áp dụng phân tích ngữ nghĩa tiềm ẩn trên mô hình vector có tác dụng làm tăng MAP của kết quả truy xuất văn bản. Với sự phát triển của mạng neuron học sâu, Deep Neural Network – DNN, các term trong văn bản có thể được biểu diễn bằng một vector gọi là vector ngữ nghĩa hay word embedding [67]. Khi này, một tài liệu văn bản sẽ được biểu diễn bằng một vector được tính toán từ các vector ngữ nghĩa của các term có trong tài liệu đó.
Các vector ngữ nghĩa của các term trong tập văn bản có thể được ước lượng từ một khối lượng văn bản rất lớn [66], [59], [85]. 11 Chương 1 – Tổng quan 1.2 Mô hình xác suất Mô hình xác suất có các đặc điểm [41]: - Văn bản được biểu diễn bằng một phân phối đa thức của các term. - Phương pháp phân tích tài liệu là xác định phân phối đa thức của các term có trong tài liệu đó. - Phương pháp so khớp văn bản và tài liệu là tính xác suất tài liệu có liên quan đến câu truy vấn theo công thức (1.1) 𝑠𝑖𝑚(𝑞, 𝑑 ) = 𝑝(𝑅̅|𝑞, 𝑑) Trong đó: o sim(q,d) là độ trùng khớp giữa câu truy vấn q và tài liệu d.
o 𝑝(𝑅|𝑞, 𝑑) là xác suất cặp tài liệu d và câu truy vấn q được xác định là có liên quan. o 𝑝(𝑅̅|𝑞, 𝑑) là xác suất cặp tài liệu d và câu truy vấn q được xác định là không liên quan. Trong các mô hình xác suất, mô hình xác suất sử dụng công thức tính toán độ liên quan BM25 [91] là một trong những mô hình truy xuất đơn giản nhưng có kết quả xếp hạng đạt MAP cao.3 Mô hình chủ đề Mô hình chủ đề có đặc điểm như sau: - Văn bản được biểu diễn bằng một vector với số chiều có thể chọn. Mỗi chiều tương ứng với một chủ đề (topic).
- Phương pháp phân tích tài liệu được thực hiện qua hai bước. Bước thứ nhất xác định các chủ đề của tập văn bản. Mỗi chủ đề là một phân phối đa thức của toàn bộ term trong tập văn bản. Bước thứ hai là tính toán xác suất theo từng chủ đề cho từng văn bản.
Giá trị xác suất này là giá trị của chiều tương ứng trong vector tài liệu. 12 Chương 1 – Tổng quan - Phương pháp so khớp văn bản và câu truy vấn là tính toán xác suất mà văn bản tạo ra câu truy vấn. Lúc này, văn bản được xem như là một mô hình ngôn ngữ và câu truy vấn là một câu trong ngôn ngữ đó. Phương pháp phân tích tài liệu có thể được thực hiện theo phương pháp phân tích ngữ nghĩa tiềm ẩn theo xác suất, Probability Latent Semantic Analysis – PLSA [50], hoặc theo phương pháp phân tích Latent Dirichlet Allocation – LDA [13].
Phương pháp phân tích LDA được phát triển từ PLSA và cả hai phương pháp LDA cũng như PLSA đã được hai tác giả (Wei và Croft 2006) áp dụng trong truy xuất văn bản bản [105].2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Năm 1964, B. Raphael đã đưa ra khái niệm “Semantic Information Retrieval. Theo tác giả này, thuật ngữ “semantic” được quan niệm là "… ‘meaning’ of material". Để xây dựng một hệ thống “semantic information retrieval”, B.
Raphael đã chọn cách tiếp cận theo ngữ nghĩa học miêu tả (“descriptive semantics”) và đưa ra một số luận điểm làm cơ sở cho việc giải quyết vấn đề truy xuất thông tin dựa trên ngữ nghĩa như sau [89]: Để biểu diễn “ngữ nghĩa” trên máy tính, các từ có thể được tổ chức theo cấu trúc cây với các đường đi thể hiện một dạng liên hệ nào đó giữa hai từ. Các giới từ, liên từ, … được sử dụng để thực hiện chức năng ngữ pháp trong câu được gọi là các từ chức năng (“function word”). Những từ được sử dụng để chỉ các thực thể, tính chất, hành vi, … trong thế giới thực được gọi là các từ nội dung (“content word”). Trong một phát biểu, các từ thuộc loại function word được dùng để liên kết các từ thuộc loại content word.
Trong trường hợp đầy đủ thì một câu là để mô tả, giải thích hoặc suy diễn. Ngữ nghĩa không phải chỉ là các thực thể mà còn là các quan hệ giữa các thực thể đó. Cây từ vựng đảm bảo một thứ tự "<". Thứ tự "<" chỉ quan hệ chứa trong hoặc thuộc.
Các động từ và các giới từ được dùng để biểu diễn quan hệ giữa các 13 Chương 1 – Tổng quan thực thể. Các động từ cũng được tổ chức dạng cây với quan hệ chứa trong hoặc thuộc. Theo đó, giả sử "S V1 O" là một câu đúng, và V1 < V2, S là chủ ngữ, V1 và V2 là các động từ, O là tân ngữ, thì câu "S V2 O" là một câu đúng. Ngữ pháp cung cấp và bổ sung thông tin để xác định ngữ nghĩa dễ dàng hơn.
Trong ngôn ngữ tự nhiên, ngữ pháp là các quy tắc để giúp con người nhanh chóng xác định được các quan hệ ngữ nghĩa của các phát biểu trong giao tiếp. Các quan điểm về tìm kiếm thông tin dựa trên ngữ nghĩa của B. Raphael chi tiết và chặt chẽ. Mặc dù tác giả đã giới thiệu phương pháp để xác định kết quả tìm kiếm một cách rõ ràng.
Tuy nhiên, vấn đề tổ chức từ vựng và các quan hệ giữa các từ vựng theo yêu cầu tính toán của phương pháp là một vấn đề khó khi áp dụng để truy xuất trên một tập văn bản lớn. Các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến semantic information retrieval giải quyết vấn đề tăng khả năng trùng khớp giữa văn bản và câu truy vấn bằng cách phân tích ngữ nghĩa của văn bản cũng như của câu truy vấn và tiến hành so khớp trên kết quả phân tích ngữ nghĩa đó. Ngữ nghĩa trong các nghiên cứu này được xác định từ các từ điển đồng nghĩa hoặc ontology. Có hai nhóm phương pháp giải quyết vấn đề này là chú giải ngữ nghĩa và mở rộng câu truy vấn tự động.1 Chú giải ngữ nghĩa Chú giải ngữ nghĩa (semantic annotation) là việc xác định ngữ nghĩa của từng đơn vị trong văn bản.
Ngữ nghĩa được xác định có thể là một thực thể, một khái niệm trong một miền tri thức hoặc có thể là nghĩa của từ vựng. Các thực thể, khái niệm hay nghĩa của từ vựng có thể có các mối liên hệ về nghĩa với nhau. Các nghiên cứu theo hướng chú giải ngữ nghĩa ở mức từ vựng có thể sử dụng nghĩa của từ vựng được tổ chức trong WordNet [68] dưới dạng các synset để chú giải cho từng từ vựng trong văn bản. Các nghiên cứu này có thể kể đến: - Tác giả Gonzalo và các đồng tác giả (1998) [45], Mihalcea và các đồng tác giả [65] cho thấy kết quả truy xuất khi sử dụng kết quả chú giải ngữ nghĩa bằng synset trong WordNet [68] kết hợp với từ vựng của văn bản làm tăng 14 Chương 1 – Tổng quan độ chính xác và độ phủ của của kết quả truy xuất với điều kiện kết quả chú giải ngữ nghĩa có tỉ lệ lỗi dưới 30%.
- Tác giả Ozcan và các đồng tác giả (2004) [83] áp dụng mô hình phân tích ngữ nghĩa tiềm ẩn lên kết quả chú giải ngữ nghĩa với synset trong WordNet [68] để giảm số chiều của không gian vector và tăng cường giải quyết trường hợp từ gần nghĩa. Kết quả nghiên cứu cho thấy MAP tăng lên 13% trên tập dữ liệu MED so với việc sử dụng từ khóa và mô hình vector. - Tác giả Giunchiglia và các đồng tác giả (2008) [44] chú giải ngữ nghĩa bằng các synset trong WordNet [68] đồng thời sử dụng công thức tính độ liên quan được xây dựng riêng cho thấy độ chính xác tăng lên 10% và độ phủ tăng lên 20%. - Tác giả Wolf và các đồng tác giả (2009) [106] sử dụng kết quả chú giải ngữ nghĩa với synset trong WordNet [68] với mô hình xác suất kết hợp với mô hình dịch máy để giải quyết trường hợp những từ có nghĩa gần giống nhau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khi áp dụng chú giải ngữ nghĩa cho văn bản thì độ chính xác không tăng hoặc tăng không đáng kể trên các bộ dữ liệu khác nhau. Nguyên nhân được chỉ ra là do kết quả xác định nghĩa của từ vựng còn chưa chính xác đủ để tác động tốt đến kết quả truy xuất văn bản. - Kết quả nghiên cứu gần đây về việc sử dụng WordNet [68] để chú giải ngữ nghĩa cho văn bản của tác giả Ngô Minh Vương và các đồng tác giả (2018) [74] cho thấy MAP của kết quả truy xuất tăng lên 17% so với việc sử dụng từ ngữ của văn bản trên cùng tập dữ liệu thử nghiệm. Cũng theo hướng chú giải ngữ nghĩa ở mức từ vựng nhưng không sử dụng WordNet [68] mà sử dụng các nhóm từ đồng nghĩa được rút trích tự động (sense cluster), tác giả Gonzalo và các đồng tác giả (2000) [46] cho thấy độ chính xác của kết quả truy xuất được cải tiến so với việc sử dụng từ ngữ của văn bản.
Với các nghiên cứu truy xuất văn bản trong một miền tri thức tương đối nhỏ, Các tác giả Soner (2012) [53], Fernandez (2011) [39], Castells (2006) [16], Hliaoutakis (2006) [48] và Vallet (2005) [103] đã sử dụng một ontology riêng cho lĩnh vực của mình.