Chương 1: Những van đề lý luận về mở rộng tín dụng hộ gia đình, cá nhân tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng hộ gia đình, cá nhân tại Chi nhánh Ngân hàng No & PTNT Hải Châu Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng hộ gia đình, cá nhân tại Chi nhánh Ngân hàng No & PTNT Hải Châu 4 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE MO RONG TIN DUNG HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TAI NGAN HANG THUONG MAI 1. Những van dé cơ ban về hộ gia đình, cá nhân 1. Hộ gia đình: ( theo điều 106 bộ luật dân sự 2005) Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức dé hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.
Đại diện hộ gia đình: ( theo điều 107 bộ luật dân sự 2005) - Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thê là chủ hộ. - Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của hộ gia đình. Cá nhân: - Là người đủ mười tám tuổi trở lên không bi mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của bộ luật dân sự.
- Trường hợp người đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch. Trong trường hợp cá nhân là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự Sở được xác định theo quy định của bộ luật dân sự. - Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó là công dân.
Trong trường hợp cá nhân là người nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự được xác định theo quy định của bộ luật dân sự. Đặc điểm - Chịu trách nhiệm vô hạn trong kinh doanh. Được hưởng những quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của bộ luật dân sự. Hợp đồng ký kết phải dựa trên luật dân sự.
- Nơi cư trú: Nơi của trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sông. - Số lượng khách hàng lớn và số lượng giao dịch của mỗi khách hàng cũng lớn, trong khi giá trị giao dịch của từng giao dịch đa số lại nhỏ. - Đối tượng khách hàng không đồng nhất, thuộc nhiều nhóm khác nhau theo các tiêu thức phân chia cụ thể như thu nhập, độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, sở thích.
- Địa bàn phục vụ của các hoạt động ngân hàng bán lẻ rộng và phân tán, cứ nơi nào có dân cư là nơi đó phát sinh nhu câu về dịch vụ tài chính. - Nhu cầu về loại hình sản phẩm tin dụng, dich vụ thì cực kỳ đa dạng và thay đối, phát triển không ngừng. - Đối tượng khách hang này rất lớn và da dạng, với mỗi khách hàng có nhu cau sử dụng sản phẩm tín dụng khác nhau như có khách hàng sử dụng sản phẩm vay thấu chi, tiêu dùng mua ôtô, có khách hàng có nhu cầu đến sản phâm vay mua đât làm nhà, sửa chữa nhà ở,.có khách hàng vay du 6 học,. Việc triển khai, tiếp cận khách hàng đến với các sản phẩm tín dụng dé phát trién khách hang hoạt động tai Ngân hang là yếu tố cần thiết dé gia tang số lượng khách hang.
- Gia tăng số lượng khách hàng và thị phần là tiêu chí chung để đánh giá bất kỳ hoạt động kinh doanh nào. Trong nền kinh tế thị trường thì “khách hàng là thượng đế” vì chính khách hàng mang lại lợi nhuận và sự thành công cho doanh nghiệp. Một ngân hàng càng hoạt động tốt bao nhiêu thì càng thu hút được nhiều khách hàng bay nhiéu. Dac biét trong linh vuc cho vay đối với hộ gia đình, cá nhânh, đối tượng khách hàng là số đông quảng đại quần chúng với mỗi giao dịch có giá trị nhỏ thì việc thu hút thật nhiều khách hàng để “tích tiêu thành đại” là rất quan trọng.
- Khách hàng hộ gia đình, cá nhân, tính trung thành kém: họ sẵn sàng chuyên sang ngân hang mà họ cho rằng có lãi suất, cơ chế chính sách va chất lượng phục vụ tốt hơn. Trong điều kiện cạnh tranh như ngày nay thì mỗi ngân hàng đều không ngừng nâng cao vị thế của mình, tạo ra một hình ảnh tốt để mở rộng thị phân, làm cho thị phần của từng loại dịch vụ không ngừng được giữ vững và tăng lên. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân, hộ gia đình chỉ được coi là phát triển khi có chính sách thông thoáng, chất lượng phục vụ tốt với một danh mục sản phẩm đa dạng để thu hút ngày càng nhiều đối tượng khách hàng. Vai trò của hộ gia dinh, cá nhân trong nên kinh tế Ngày nay, tầm quan trọng của hộ gia đình, cá nhân đã được thừa nhận, hoạt động và sự phát triển của hộ gia đình, cá nhân đóng vai trò lớn vào sự phát triên của nên kinh tê quôc gia.
Đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế và xã hội 7 Hộ gia đình, cá nhân đóng góp phan quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng trên dưới 20 % GDP mỗi nước. Tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay, hộ gia đình, cá nhân luôn là đối tượng đóng góp một phần lớn vào GDP của nước ta. Theo thống kê mới nhất, thời gian gần đây, hộ gia đình, cá nhân tiếp tục đóng góp hơn 20% vào GDP cả nước. Một đặc điểm nỗi bật là hộ gia đình, cá nhân chủ yếu phục vụ cho thị trường nội địa, hoạt động dựa trên nguồn nhân lực, phát triển các công nghệ và kỹ năng trong nước, điều này có ý nghĩa đòn bẫy giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm thiểu gánh nặng từ những tiêu cực xã hội.
Đảm bảo tính năng động của nền kinh tế Do lợi thế của quy mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sang tạo, mềm dẻo, hòa nhịp với đòi hỏi uyén chuyên của nền kinh tế thị trường. Hộ gia đình, cá nhân có nhiều khả năng chuyển đổi mặt hang nhanh, phù hợp với nhu cầu thị trường mà ít gây biến động lớn, ít chịu ảnh hưởng và có khả năng phục hồi nhanh sau những cuộc khủng hoảng kinh tế. Thực tế cho thấy hộ gia đình, cá nhân có cơ hội sản xuất nhiều loại hàng hóa, phù hợp với quy mô và dung lượng thị trường phân tán. Góp phần khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương Trong khi các doanh nghiệp thường đặt tại các thành phố lớn hay những vùng kinh tế trọng điểm, hộ gia đình, cá nhân nằm dàn trải tại các địa phương.
Hộ gia đình, cá nhân sản xuất những sản phẩm theo nhu cầu của địa phương, trên nguôn lực sẵn có, trên môi trường pháp lý của địa phương. Đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa 8 Với vai trò là những nha phân phối cuối cùng của tat cả các loại hàng hóa có mặt trên thị trường, hộ gia đình, cá nhân như là những chân rết đưa hàng hóa đến tận tay những người tiêu dùng nhỏ nhất, xa nhất. Và cũng chính hộ gia đình, cá nhân sẽ phân ánh chất lượng của hàng hóa đó, giúp cho hàng hóa được phân hóa rõ ràng và chất lượng của hàng hóa sẽ ngày cang tốt hơn dé có thé dap ứng được những nhu cầu khó tính của người tiêu dùng. Tín dụng Ngân hàng thương mại đối với hộ gia đình, cá nhân 1.
Khái niệm, đặc điểm tín dụng a. Khái niệm tín dụng Hoạt động tín dụng là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay, trong đó người cho vay nhượng lại quyền sử dụng vốn cho người đi vay dựa trên sự tín nhiệm và theo nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Sự hoàn trả này không chỉ bảo tn giá trị mà còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức. Quá trình vận động mang tính chất hoàn trả của hoạt động tín dụng là biểu hiện về sự khác biệt giữa hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh tế khác.
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế, tín dụng được coi là một quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay với điều kiện có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay tô chức nhường quyên sử dụng (chuyên nhượng) một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về: Số tiền hoàn trả (gốc và lãi vay), thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay - muon và thu hoi. Những điều kiện mà hai bên thường thỏa thuận là: 9 - Khối lượng hàng hóa hay tiền tệ được chuyên nhượng - Thời han sử dụng vốn của người vay - Thu nhập (lợi tức) mà người cho vay được hưởng - Những điều kiện ràng buộc nghĩa vụ hoàn trả của người đi vay Ngoài ra, trong quan hệ tín dụng còn có những đặc trưng khác cần đề cập như khả năng rủi ro, tính bảo đảm, qui luật cung cầu, cạnh tranh, giá trị và quy luật lưu thông tiền tệ. Theo Luật các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi bổ sung năm 2010 qui định cụ thể về hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của Tô chức tin dụng tại điều 04 như sau: “Hoạt động tin dụng là việc Tổ chức tin dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng.