Chương 1: Những vấn đề chung vẻ huy động vốn va mở rộng huy động vốn của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng mở rộng huy động vốn của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam — chỉ nhánh Lạng Sơn Chương 3: Giải pháp mở rộng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam — chỉ nhánh Lạng Sơn. CHUONG 1 Ni G VAN DE CHUNG VE HUY DONG VON VA MO RONG HUY DONG VON CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mai 1. Khái niệm huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một loại hình tô chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương, chủ thể tham gia nói riêng.
Ngân hàng đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.Tuy nhiên quan niệm như thế nào về một NHTM, và sự phân biệt nó với các tô chức phi ngân hàng không phải là điều đơn giản. Một số khái niệm về NHTM như sau: Theo Luật các tô chức tín dụng (2010): “Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tắt cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng. thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” Theo Cao Thi Ý Nhi (2016): “Ngân hàng thương mại là một tô chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhưng.
nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng”. Theo Phan Thi Thu Ha (2013): “Ngân hàng thương mại là loại hình tô chức tín dụng có thể được thực hiện tắt cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” Đây là khái niệm được sử dụng chính trong luận văn. Nghiệp vụ kinh doanh của NHTM là rất phong phú, đa dạng và thường thay đôi, phát sinh theo nhu cầu của thị trường, sự thay đôi các điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ.
Huy d6ng von ctia ngdn hang thương mại Đối với NHTM, thì hoạt động huy động vốn luôn được quan tâm hàng đầu, bởi vì, một NHTM có nguồn vốn lớn sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế. Đồng thời, vốn lớn sẽ giúp ngân hàng. có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết. Điều đó sẽ thuhút nhiềukhách hàng, doanh số hoạt động của NHTM từ đó sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh.
Ngoài ra vốn củaNHTM dỗi dào sẽ đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh đầu tư và tiêu dùng của xã hội, góp phần thúc đây tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiệncho NHNN đảm bảo khả năng thực thỉ chính sách tiền tệ, góp phần ồn định lưu thông tiền tệ, đảm bảo cân đối tiền - hàng trong nền kinh tế. Ngày nay, trước sức ép của cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính, đòi hỏi các NHTM phải có những chính sách thu hút nguồn tiền ngày một linh hoạt, để từ đó đáp ứng cho hoạt động của ngân hàng. Nguyễn Hữu Tài (2012), cho rằng: “Huy động vốn tại NHTM là quá trình NHTM sử dụng các chính sách, công cụ, cách thức để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội dưới dạng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiều và các giấy tờ có giá khác, tạo nên một nguồn tài chính được NHTM sử dụng để kinh doanh sinh lời và trả lại một phần lợi nhuận này cho người gửi thông qua công cụ lãi suất” Cao Thị Ý Nhĩ (2016): “Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại là hoạt động mà trong đó các ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó. theo đúng các quy định pháp luật” Phan Thị Thu Hà (2013):*#uy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguôn vốn từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau đẻ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng ”.Đây cũng là khái niệm được sử dụng trong luận văn.
Các hình thức huy động vẫn của ngân hàng thương mại 'Vốn vừa mang tính chất tiền đề vừa là vấn đề xuyên suốt cho quá trình hình thành và phát triển của NHTM. Mục tiêu tổng quát của NHTM là an toàn và sinh lời trong kinh doanh. Do đó, việc tạo lập một nguồn vốn vững chắc, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngân hàng là điều rất cần thiết. Mỗi ngân hàng hoạt động.
trong một môi trường, điều kiện cụ thể sẽ có những nghiệp vụ huy động vốn khác nhau. Song nhìn chung, các NHTM đều có các hình thức huy động vốn sau: ~ Theo đối tượng huy động + Huy động vốn từ dân cư:Ngân hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyên đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh. Dân cư thường gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm. lời và để thanh toán.
Nguồn huy động từ dân cư thường khá ồn định và thường chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tông nguồn vốn huy động của ngân hàng. + Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: Để đảm bảo an toàn, tiết kiệm thời gian, chỉ phí trong thanh toán mà vẫn sinh lời, các doanh nghiệp. dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh nghiệp khi bán được hàng hoá đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần.
+ Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác: Trong quá trình hoạt động các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán. Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữa các ngân hàng cũng làm tăng nguồn vốn huy động. Điều này tuy không thường xuyên song là cần thiết trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại. Để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chỉ trả cấp bách, các ngân hàng thương mại có thể vay lẫn nhau.
số những người cho ngân hàng vay có một người đặc biệt đó là ngân hàng Trung ương. Ngân hàng trung ương đóng vai trò là người cho vay cuối cùng để cứu cho. các ngân hàng thương mại khỏi các trục trặc xảy ra. Huy động vốn từ các ngân hàng và các tô chức tín dụng khác tuy cũng khá dễ dàng nhưng số lượng thường.
không nhiều và chỉ phí huy động thường cao hơn. Do vậy, hình thức này các ngân hàng sử dụng không nhiều ~ Theo thời gian huy động vốn + Huy động vốn ngắn hạn: Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán. Phần lớn số này được dùng để cho vay ngắn hạn (dưới | năm) hoặc được chuyển hoán kỳ. hạn để thực hiện cho vay trung hạn.
VHĐ ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng cao trong ngân hàng, do thời gian ngắn nên lãi suất thường thấp và tính ônh kém. + Huy động trung hạn: Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm). Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và ôn định. Tuy nhiên do thời gian dài nên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn.
Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đôi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao. + Huy động dài hạn: Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với nguồn huy động này NHTM có thể sử dụng dễ dàng, có tính ôn định cao (từ 5 năm trở lên). Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao. ~ Theo bản chất nghiệp vụ huy động vốn + Huy động tiền gửi không kỳ hạn 'Với loại này, người gửi có thể gửi tiền vào và rút ra bat cứ lúc nào khi có nhu.
cầu, như thế ngân hàng sẽ rất khó kế hoạch hoá việc sử dụng loại tiền này, nên loại tiền này luôn có số dư, lãi suất thấp vì thế khách hàng thường duy trì số dư trong tài khoản tiền gửi thanh toán không nhiều, chỉ vừa đủ để đáp ứng nhu cầu chỉ trả của mình. Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản để chuyển trả cho người thụ hưởng, chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này. Mục đích chính của người gửi tiền là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng, do vậy, nó còn được gọi là tiền gửi thanh toán. Chủ tài khoản được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp, bởi vì người gửi tiền sẵn lòng bỏ qua một số tiền lãi để có một tài sản có tính lỏng cao sử dụng trong cách hoạt động thanh toán mua hàng.
Những khoản chỉ phí của ngân hàng để duy trì loại tiền gửi thanh toán bao gồm tiền thanh toán lãi và những chỉ phí trong việc phục vụ thanh toán trên các tài khoản tiền gửi loại này như: xử lý lưu trữ chứng từ thanh toán; phí dich vụ chuyển tiền và chứng từ; cung cắp thông tin. + Huy động tiền gửi có kỳ hạn Các khoản tiền gửi có kỳ hạn được đặc trưng bằng chứng chỉ tiền gửi ghỉ rõ thời gian đáo hạn và số lượng. Khách hàng chỉ được rút ra sau một thời gian nhất định theo kỳ hạn đã được thoả thuận khi gửi tiền. Tuy nhiên, ngân hàng có thể giải quyết cho khách hàng rút trước hạn khi có yêu cỉ nhưng phải bị phạt tiền bằng việc chuyển từ mức lãi suất tiền gửi có kỳ hạn sang áp dụng mức lãi suất không kỳ hạn thấp hơn.
Đối với các loại tiền gửi có kỳ hạn mục đích của người gửi tiền là lợi tức, không quan tâm đến việc tận dụng những tiện ích thanh toán do ngân hàng.