Chương 1, điều 4 Nghị địnhvề thanh toán không dùng tiền mặt.2 Ý nghĩa của Thanh toán không dùng tiền mặt 1.1 Đối với khách hàng Khi giao dịch với ngân hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ họ phải mở tài khoản tiền gởi tại ngân hàng. Tiền này có thể sử dụng bất cứ lúc nào và nó có tính thanh khoản gần như 100%. Quá trình thanh toán này nhanh hơn tiền mặt, giảm được rất nhiều chi phí liên quan đến quá trình vận chuyển, kiểm đếm tiền mặt mà họ phải chịu. Mặt khác, cá nhân hay các tổ chức không phải đem theo một số lượng tiền mặt để thanh toán cho các giao dịch phát sinh, và không phải bận tâm đến những rủi ro bất ngờ như trộm cắp, thiên tai, hỏa hoạn.
Ngoài ra khi khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng và duy trì số tiền, họ còn được hưởng những lợi ích khác như được trả lãi, được cung cấp dịch vụ ngân hàng với nhiều ưu đãi.2 Đối với ngân hàng Tài khoản tiền gởi giao dịch của khách hàng tại ngân hàng là nguồn huy động vốn quan trọng không thể thiếu được trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Mặt khác nguồn vốn này ngân hàng phải trả lãi rất thấp hoặc không trả lãi, do đó khi dùng vốn để cho vay mức lợi nhuận thu được tương đối cao. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng sẽ có cách thức riêng để sử dụng nguồn vốn huy động từ tiền gởi thanh toán, làm thế nào vửa đảm bảo tính thanh khoản mà vẫn thu lợi nhuận cao. Nhờ có nguồn vốn quan trọng nên các ngân hàng có điều kiện để mở rộng cung ứng các dịch vụ cho khách hàng, tạo điều kiện để tăng lợi nhuận, điều mà bất kỳ ngân hàng nào cũng mong muốn trong quá trình kinh doanh.3 Đối với nền kinh tế Thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm bớt khối lượng tiền mặt trong lưu thông, từ đó giảm một khoản chi phí rất lớn cho việc in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm.
Mặt khác, thanh toán không dùng tiền mặt góp phần tăng cường hiệu lực quản lý của ngân hàng. Các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt đều được lưu lại trên sổ sách kế toán tại ngân hàng, nên thông qua đó ngân hàng có thể kiểm soát hoạt động của các đơn vị thuộc nhiều ngành kinh tế khác một cách dễ dàng. Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần chống thất thu thuế có hiện quả. Tổng quan về thẻ của Ngân hàng thương mại.
Khái niệmthẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng là một loại công cụ thanh toán hiện đại do NHPH và bán cho các đơn vị, cá nhân để họ sử dụng trong thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ. hoặc rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hay tại các quầy trả tiền tự động (ATM). Ở các nước có nền kinh tế phát triển với công nghệ ngân hàng hiện đại, thì thẻ thanh toán được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến. Ở Việt Nam, yêu cầu đẩy nhanh công tác thanh toán, mở rộng phạm vi thanh toán cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay; mặt khác do sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng Việt Nam, với việc từng bước trang bị hệ thống thông tin hiện đại tiên tiến ., đã cho phép áp dụng những công cụ thanh toán mới hiện đại để bổ sung cho những công cụ thanh toán trong nền kinh tế.
11 Theo thông tư quy định về hoạt động thẻ ngân hàng số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/10/2016 thì “Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các Điều kiện và Điều Khoản được các bên thỏa thuận. Thẻ trong Thông tư này không bao gồm các loại thẻ do các tổ chức cung ứng hàng hóa, dịch vụ phát hành chỉ để sử dụng trong việc thanh toán hàng hóa, dịch vụ của chính các tổ chức phát hành đó. Phân loại thẻ 1.1 Phân loại theo công nghệ sản xuất a) Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card): Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết, số thẻ, tên chủ thẻ, thời hạn sử dụng. loại này nhanh chóng bị thay thế vì kỹ thuật của nó quá thô sơ, bảo mật kém, dễ làm giả.
b) Thẻ từ (Magnetic Card): là loại thẻ có băng từ ở mặt sau thẻ. Toàn bộ thông tin liên quan đến chủ thẻ và thẻ đều được mã hoá trong băng từ. Cùng với kỹ thuật in hình chìm nhiều lớp biểu tượng và hologram, cộng thêm in ảnh và chữ ký của khách hàng trên thẻ. Tuy nhiên nó cũng đã bộc lộ những điểm yếu do mức độ bảo mật không cao, dễ bị kẻ gian lợi dụng đọc thông tin và làm giả thẻ hoặc tạo các giao dịch giả, gây thiệt hại cho chủ thẻ hoặc ngân hàng.
c) Thẻ thông minh (Smart Card): Là loại thẻ có đặt một chíp điện tử tương tự như một máy tính cực nhỏ trên thẻ trong đó lưu trữ tất cả các thông tin về thẻ, chủ thẻ như thẻ từ. Thêm vào đó, chíp này còn lưu trữ số dư tài khoản thẻ hoặc hạn mức tín dụng của chủ thẻ. Đây là thế hệ mới nhất và hiện đại nhất của thẻ hiện nay, nó đã khắc phục được nhiều nhược điểm của thẻ từ, đảm bảo tính an toàn cao và có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau như gọi điện thoại công cộng, trả cước phí cầu đường, mua xăng dầu, … Tuy nhiên chi phí để sản xuất thẻ “chip” vẫn còn cao. d) Thẻ từ có chip: là loại thẻ từ có gắn cả chip, nhằm mục đích sử dụng được cả trên hai hệ thống chấp nhận thanh toán thẻ từ và hệ thống thanh toán thẻ chip.2 Phân theo tính chất thanh toán a) Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng rất phổ biến hiện nay.
Khi sử dụng thẻ này, chủ thẻ được cấp một hạn mức tín dụng nhất định để chi 12 tiêu tại những ĐVCNT. Hạn mức tín dụng được ngân hàng đưa ra căn cứ vào uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của khách hàng. Khả năng đảm bảo được xác định dựa trên tình hình thu nhập, tình hình chi tiêu, tài khoản đảm bảo, địa vị xã hội, … của khách hàng. Đây là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho người sử dụng có thể chi tiêu trước, trả tiền sau.
Định kỳ chủ thẻ sẽ nhận được sao kê từ ngân hàng, chủ thẻ sẽ phải thanh toán số tiền đã chi tiêu hoặc một số tiền tối thiểu do ngân hàng quy định. Sau khi thanh toán đủ số tiền phải trả, ngân hàng sẽ khôi phục hạn mức tín dụng cho chủ thẻ. Điều này tạo nên tính tuần hoàn, là đặc tính ưu việt của thẻ tín dụng. Khoảng thời gian từ khi thẻ được dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của các tổ chức khác nhau.
Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn được miễn lãi đối với số dư nợ cuối kỳ. Tuy vậy, nếu hết thời gian này mà toàn bộ số dư nợ cuối kỳ chưa được thanh toán cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ chịu những khoản phí và lãi chậm trả. b) Thẻ ATM: Là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép chủ thẻ tiếp cận trực tiếp với tài khoản tại ngân hàng từ máy ATM. Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại máy ATM, bao gồm: xem số dư tài khoản, chuyển khoản, rút tiền, in sao kê, xem các thông tin quảng cáo… Hệ thống máy ATM hiện đại còn cho phép chủ thẻ gửi tiền vào tài khoản của mình, đổi séc, thực hiện nộp hồ sơ cho một khoản vay ngay tại các máy ATM.
Tuy nhiên, các ngân hàng đều giới hạn hạn mức rút mỗi ngày. Và hạn mức này cũng tùy thuộc vào từng ngân hàng. c) Thẻ ghi nợ (Debit Card): Với đặc tính thuận tiện, thẻ ATM đã nhanh chóng trở thành sản phẩm rất phổ biến, đặc biệt có tốc độ tăng trưởng cao tại các thị trường đang phát triển. Tuy nhiên, sử dụng thẻ ATM, chủ thẻ chỉ có thể tiếp cận với tài khoản của mình từ những máy ATM.
Đây là một hạn chế bởi tài khoản cá nhân chưa được tận dụng triệt để trong thanh toán hàng hóa - dịch vụ tại các ĐVCNT. Chính vì lý do này, thẻ ghi nợ ra đời. Thẻ ghi nợ là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trên cơ sở số dư tài khoản tiền gửi để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các ĐVCNT và rút tiền tại các máy ATM. 13 d) Thẻ liên kết (Co-Branded Card):Một hình thức thẻ ngân hàng ngày càng trở nên phổ biến là thẻ liên kết.
Thẻ liên kết là sản phẩm của một ngân hàng hay một tổ chức tài chính kết hợp với một bên thứ ba là các tổ chức kinh tế lớn, có uy tín. Thông thường, tên hoặc nhãn hiệu thương mại, logo của bên thứ ba này cũng đồng thời xuất hiện trên tấm thẻ. Ngoài những đặc điểm sẵn có của thẻ ngân hàng thông thường, thẻ liên kết có sức hấp dẫn hơn đối với khách hàng bởi những lợi ích phụ trội do bên thứ ba đem lại. e) Thẻ trả trước: là loại thẻ mới được phát triển trên thế giới cũng như Việt Nam, khách hàng không phải làm các thủ tục phát hành thẻ như: làm giấy yêu cầu phát hành thẻ, mở tài khoản hoặc chứng minh tài chính, mà chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ được ngân hàng cấp cho một tấm thẻ với mệnh giá tương đương.
Đặc tính của loại thẻ này giống như mọi thẻ bình thường khác, tuy nhiên thẻ chỉ được chi tiêu trong giới hạn số tiền có trong thẻ và một khoảng thời gian nhất định tùy theo NHPH.3 Phân theo phạm vi lãnh thổ a) Thẻ trong nước: là loại thẻ bị hạn chế sử dụng trong phạm vi một nước, các NHPH và các đơn vị chấp nhận loại thẻ này cũng được đặt trong nước, loại thẻ này cũng chỉ được lưu hành tại nước đó. b) Thẻ quốc tế: được phát hành bởi các ngân hàng trong nước và ngân hàng quốc tế, các tổ chức tài chính là thành viên của hiệp hội thẻ quốc tế.Loại thẻ này có thể được sử dụng ở khắp nơi trên thế giới.3 Khái niệm dịch vụ thẻ ngân hàng Dịch vụ thẻ của NHTM là một dịch vụ ngân hàng hiện đại, ra đời và phát triển dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ.