CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NHTM 1.1 CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NHTM 1. Khái niệm về cho vay của NHTM Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.[10] Cho vay là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của NHTM khi thực hiện tín dụng ngân hàng. Đây là nghiệp vụ chủ yếu khi ngân hàng quyết định cấp tín dụng cho khách hàng và cũng là nghiệp vụ mang về thu nhập chính cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra với ngân hàng.
Do vậy các NHTM luôn phải quan tâm tới rủi ro trong cho vay nhằm hạn chế tối đa rủi ro tín dụng xảy ra đối với ngân hàng. Nguyên tắc và điều kiện cho vay của NHTM a. Nguyên tắc cho vay Vay vốn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là cơ hội để ngân hàng cấp tín dụng và thu lợi nhuận từ hợp đồng của mình. Tuy nhiên cấp tín dụng liên quan đến việc sử dụng vốn huy động của khách hàng nên phải tuân theo những nguyên tắc nhất định.
Nói chung khách hàng vay vốn phải đảm bảo những nguyên tắc sau: - Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Việc sử dụng vốn trong cho vay vào mục đích gì do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và Luan van 8 khả năng thu hồi nợ vay sau này. Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng đồng thời cần kiểm tra xem khách hàng có sử dụng đúng mục đích hay không. Đây là nguyên tắc cơ bản, vì có sử dụng đúng mục đích thì khách hàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo dự kiến và như vậy mới có thể thu hồi được vốn và trả nợ cho ngân hàng.
Nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng khách hàng dùng dùng vốn mà thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm. - Tiền vay phải được hoàn trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi. Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn mà vay mượn thì phải hoàn trả. Nguyên tắc này đảm bảo cho ngân hàng kinh doanh được an toàn vốn, còn đối với chủ thể vay vốn thì họ phải tính toán cân nhắc và có trách nhiệm đối với các khoản vay này.
Khi ngân hàng cấp phát tiền vay Ngân hàng phải có cơ sở tin rằng khách hàng có khả năng trả nợ một cách đầy đủ nếu không hợp đồng tín dụng không thể xảy ra, bởi vậy để duy trì và phát triển kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thì đồng vốn bỏ ra phải quay về Ngân hàng với giá trị cao hơn, điều này không chỉ giúp cho Ngân hàng có thể tái tạo lại ngồn vốn mà có lãi để trang trải chi phí, nếu Ngân hàng không thu hồi đủ nợ thì dẫn đến thua lỗ và cao hơn nữa là mất khả năng thanh toán. - Vay vốn phải có đảm bảo. Theo thông lệ quốc tế, các ngân hàng thương mại căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng vay và tính chất của khoản vay để yêu cầu khách hàng vay vốn có hoặc không có tài sản đảm bảo tiền vay. Đảm bảo tiền vay chính là nguồn trả nợ cuối cùng trong trường hợp việc kinh doanh của khách hàng vay kém hiệu quả, làm ăn thua lỗ kéo dài, hoặc bị ảnh hưởng của nguyên nhân khách không còn có khả năng trả nợ cho ngân hàng, có như vậy ngân hàng mới chủ động trong việc thu hồi nợ quá hạn, đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng.
Điều kiện vay vốn Điều kiện vay vốn là những quy định cụ thể của ngân hàng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn. Ngân hàng chỉ cho vay đối với những khách hàng đáp ứng được yêu cầu do ngân hàng đề ra. Điều kiện vay vốn bao gồm: - Địa vị pháp lý của khách hàng vay vốn: khách hàng vay vốn phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. - Có khả năng tài chính và đảm bảo trả nợ đúng hạn theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Khả năng tài chính của khách hàng được thể hiện thông qua mức độ vốn chủ sở hữu của khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống; tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có lãi; cam kết của khách hàng về việc phải mua bảo hiểm đối với tài sản là đối tượng vay vốn (tài sản hình thành sau khi vay) mà theo pháp luật phải mua bảo hiểm. Trường hợp pháp luật không quy định mua bảo hiểm nhưng xét thấy cần thiết phải đảm bảo an toàn vốn vay, các ngân hàng xem xét quyết định khách hàng vẫn phải cam kết mua bảo hiểm đối với đối tượng vay vốn mà pháp luật không bắt buộc mua bảo hiểm. Nếu khách hàng không thực hiện đúng cam kết mua bảo hiểm theo Hợp đồng thì ngân hàng cho vay được quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ hoặc chuyển nợ quá hạn. - Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp: khách hàng không được vay vốn để sử dụng cho các mục đích mà pháp luật cấm như: để mua sắm, chi phí hình thành tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi để thanh toán chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm; để đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch mà pháp luật cấm.
- Có tài liệu chứng minh khả năng hấp thụ vốn vay phù hợp với quy định của pháp luật và có khả năng hoàn trả vốn vay cho ngân hàng. Ngân Luan van 10 hàng chỉ cấp tín dụng cho các phương án, dự án kinh doanh vay vốn có hiệu quả kinh tế đảm bảo tạo ra nguồn để trả nợ vay ngân hàng cả gốc và lãi. - Thực hiện đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và theo hướng dẫn của Thống đốc NHNN Việt Nam. Phân loại cho vay của NHTM a.
Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay Cho vay có tài sản bảo đảm: là hình thức cho vay mà số tiền được cấp ra dựa trên tài sản đảm bảo(cầm cố, thế chấp). Các tài sản dùng đảm bảo nợ vay phải hội đủ các điều kiện về tính thị trường, ổn định. Các hình thức cho vay có đảm bảo như đảm bảo bằng các chứng khoán(giấy tờ có giá), bằng hợp đồng thầu khoán, bằng vật tư hàng hoá, bằng bất động sản. Cho vay không có đảm bảo: còn gọi là cho vay tín chấp.
Thực chất đây là cũng là một hình thức đảm bảo nhưng đảm bảo bằng uy tín và khả năng trả nợ của chính người vay vốn hoặc sự bảo lãnh của bên thứ 3. Với hình thức cho vay này, người vay và người đứng ra bảo lãnh cho khoản vay phải được ngân hàng đánh giá cao về uy tín, năng lực tài chính và mức độ tín nhiệm b. Căn cứ vào thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là khoản thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phục vụ đời sống của khách hàng.
Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay từ trên 1 năm đến 5 năm(Theo quy định của NHNN Việt Nam) dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các Luan van 11 dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đó, nó còn được dùng đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp mới thành lập. Cho vay dài hạn: Thời hạn tín dụng từ trên 5 năm, tối đa có thể lên đến 20,30 thậm chí 40 năm. Loại tín dụng này dùng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Căn cứ vào phương thức vay Cho vay từng lần: còn gọi là cho vay theo món. Trong phương thức này, mỗi món vay riêng lẻ được thể hiện trong một hợp đồng tín dụng độc lập. Số tiền vay mỗi lần là cố định và được thoả thuận từ trước trong hợp đồng tín dụng. Các khoản vay phát sinh mới trong kỳ sẽ phải thực hiện trên một hợp đồng tín dụng khác.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: theo phương thức cho vay này, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định, giá trị khoản vay phát sinh trong kỳ không được vượt quá hạn mức tín dụng này. Khách hàng có thể sử dụng hết hạn mức này hoặc không, thủ tục chỉ phải hoàn thành trong một lần, các khoản vay mới phát sinh trong kỳ không cần phải làm lại hợp đồng tín dụng, và số dư nợ tại một thời điểm bất kỳ trong thời hạn hợp đồng không được vượt quá hạn mức tín dụng. Cho vay theo hạn mức thấu chi: là phương thức cho vay gắn liền với việc sử dụng tài khoản thanh toán của khách hàng, Ngân hàng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng được chi vượt số tiền hiện có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Luan van 12 Cho vay trả góp: Đây là loại cho vay mà Ngân hàng cùng khách hàng xác định thoả thuận số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
Số tiền vay được trả nợ thành nhiều kỳ hạn đều nhau với tổng số tiền trả nợ gốc và lãi của mỗi kỳ hạn bằng nhau, trong đó số tiền trả lãi được tính trên dư nợ thực tế và số ngày thực tế của kỳ hạn trả nợ đó.