Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác bảo đảm tín dụng trong cho vay HKD tại Ngân hàng Thương mại - Chương 2: Thực trạng công tác bảo đảm tín dụng trong cho vay HKD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam CN Hải Châu - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác bảo đảm tín dụng trong cho vay HKD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam CN Hải Châu 8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để có nguồn thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, tác giả đã tham khảo từ một số nghiên cứu đi trước, để từ đó rút ra những định hướng và phương pháp nghiên cứu cho phù hợp với đề tài của mình, điển hình như: - Đề tài : “Bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng”, Tác giả Lương Minh Trí, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà nẵng (2011). Đề tài hệ thống hoá cơ sở lý luận về bảo đảm tiền vay, nghiên cứu thực tế về chất lượng của công tác bảo đảm 4 tiền vay tại Chi nhánh Ngân hàng No &PTNT Quận Sơn Trà để đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động BĐTV tại Chi nhánh. - Đề tài: “ Hoàn thiện công tác BĐTV bằng tài sản tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam.”, Tác giả Lê Thị Uyên Sa, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng (2013).
Đề tài trình bày gần như đầy đủ về công tác BĐTV bằng tài sản, từ vai trò, quy trình cũng như các biến số đánh giá kết quả công tác BĐTV bằng tài sản. Tác giả phân tích rõ ràng nội dung thực hiện công tác BĐTV bằng tài sản tại chi nhánh để đưa ra những ưu, nhược điểm của quy trình, các chỉ tiêu đánh giá kết quả từ đó đưa ra một số nội dung chặt chẽ về các biện pháp hoàn thiện. - Đề tài: “ Hoàn thiện công tác xử lý tài sản đảm bảo tiền vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kon Tum.”, Tác giả Nguyễn Thị Hương, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng (2012). Đề tài tập trung vào công tác xử lý tài sản đảm bảo tiền vay, đồng thời nêu lên một số hạn chế trong công tác bảo đảm tiền vay và nguyên nhân của các hạn chế trên đồng thời đưa ra nhóm các giải pháp để hoàn thiện công tác xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
- Đề tài “Hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bình Định” năm 2013 của Nguyễn Văn Thạnh tại Đại học Đà Nẵng. Đề tài đã giải quyết được các nội dung chủ yếu về cơ sở lý luận trong hoạt động bảo đảm tiền vay, các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản, trong đó nêu rõ được định nghĩa, các đặc điểm cũng như hình thức của các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản, hệ thống lại các nội dung chủ yếu và quy trình công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản, những nhân tố ảnh hưởng liên quan đến ngân hàng, khách hàng…Từ nền tảng đó, tác giả tập trung phân tích được khá nhiều mặt thực 5 trạng công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại ngân hàng TMCP BIDV- chi nhánh Bình Định, đưa ra các giải pháp cũng như những kiến nghị. - Tạp chí Ngân hàng, số 23/2010, ThS Nguyễn Thùy Trang : “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, một số nhận định từ góc độ pháp lý đến thực tiễn” - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12- năm 2008, Trần Minh Sơn :“Thực tiễn cơ chế bảo đảm tiền vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa” Từ kết quả nghiên cứu các luận văn trên, bản thân thấy được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác bảo đảm tín dụng. Bên cạnh đó để có cơ sở phân tích, so sánh các chỉ tiêu và khái quát thực trang công tác bảo đảm tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại Agribank Hải Châu, tác giả đã sử dụng một số tài liệu nội bộ, báo cáo thường niên, quy trình văn bản do Agribank ban hành.
Nhằm mục đích nêu lên thực trạng, mặt được, mặt còn hạn chế, và qua đó đề xuất một số giải pháp để hoàn thiên hơn nữa trong công tác bảo đảm tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại Agribank Hải Châu trong thời gian tới. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TRONG CHO CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NHTM 1. Khái niệm, đặc điểm NHTM a.
Khái niệm - Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Đặc điểm - NHTM là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thực hiện hai hình thức hoạt động là kinh doanh tiền tệ và dich vụ ngân hàng. Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau, để cấp tín dụng cho khách hàng có yêu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
Các hoạt động dịch vụ ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối, chứng khoán, để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời gian nhất định nhằm mục đích thu phí dịch vụ hoặc hoa hồng. - Hoạt động NHTM phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, nghĩa là khi NHTM thỏa mãn đầy đủ các điều kiện của pháp luật quy định như điều kiện về vốn, phương án kinh doanh… thì mới được phép hoạt động trên thị trường 7 - Hoạt động kinh doanh của NHTM có khả năng rủi ro cao, nó tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới toàn bộ nền kinh tế. Sở dĩ như vậy là do trong hoạt động ngân hàng đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ do các ngân hàng tiến hành huy động vốn của người khác để đem vốn đó cấp tín dụng cho khách hàng theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định, nên đã tạo rủi ro cho các hoạt động NHTM. Khái niệm, đặc điểm HKD a.
Khái niệm Hộ kinh doanh là chủ thể kinh doanh do một cá nhân hoặc một hộ gia đình làm chủ, tham gia vào một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau nhưng trong phạm vi một gia đình. Chủ thể này chỉ được đăng kí kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Đặc điểm HKD - HKD không có tư cách pháp nhân và con dấu riêng Theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Dân Sự năm 2005, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: (1) Được thành lập hợp pháp; (2) Có sơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; (4) Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Hộ kinh doanh không có đủ điều kiện về tổ chức và tài sản nên không phải là một pháp nhân.
- HKD là hình thức kinh doanh với quy mô nhỏ Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được phép kinh doanh tại một địa điểm nhất định và số lượng lao động không quá mười người. - HKD chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh của mình 8 HKD không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó, nên vê nguyên tắc chủ nhân của HKD phải chịu trách nhiêm vô hạn đối với các khoản nợ của HKD, có nghĩa là chủ nhân của HKD phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đưa vào kinh doanh. + Đối với trường hợp HKD do một cá nhân duy nhất làm chủ sở hữu thì cá nhân này đồng thời là người quyết định mọi vấn đề liên quan đến HKD cá thể. Đương nhiên chủ hộ kinh doanh cá thể sẽ là đối tượng duy nhất có quyền hưởng mọi lợi nhuận do công việc kinh doanh của hộ tạo ra, là người duy nhất chịu mọi nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và cũng là người duy nhất chịu mọi rủi ro đối với hoạt động của hộ + Đối với trường hợp HKD do một hộ gia đình làm chủ thì hộ gia đình này phải cử ra một đại diện, người đại diện này sẽ thay mặt hộ thực hiện quyền và nghĩa vụ của hộ.
Tuy nhiên người đại diện này không chịu trách nhiệm thay cho những thành viên khác trong gia đình. Lợi nhuận cũng như rủi ro sẽ chia cho các thành viên trong hộ gia đình theo thỏa thuận của tất cả các thành viên. Khái niệm, đặc điểm cho vay HKD của NHTM a. Khái niệm - Cho vay HKD là hình thức cấp tín dụng của NHTM giao cho khách hàng HKD một khoản tiền để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo thời hạn đã quy định trong hợp đồng tín dụng.
Đặc điểm - Quy mô của khoản vay thường nhỏ, lẻ Quy mô kinh doanh của hộ thường nhỏ, đa phần tập trung ở các ngành nghề nhỏ, lẻ, yêu cầu về trang thiết bị, kỹ thuật thấp, vốn đầu tư ban đầu 9 không lớn do đó nhu cầu vay vốn của các HKD chỉ ở mức độ trung bình, nhỏ, đáp ứng đủ các yêu cầu về buôn bán kinh doanh .