phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục biểu, hình…luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động cho vay và mở rộng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Vietinbank từ năm 2016 đến năm 2018. Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Vietinbank đến năm 2025. CHƢƠNG 1 4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐÔNG CHO VAY VÀ MỞ RỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 1.
Khái quát về doanh nghiệp FDI 1. Khái niệm và vai trò của doanh nghiệp FDI 1. Khái niệm về doanh nghiệp FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) có thể hiểu dưới các góc nhìn khác nhau. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF- International Money Fund) thì FDI: “Đầu tư trực tiếp nhằm đạt được quyền lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế nhà đầu tư”.
Định nghĩa này chỉ “nghiêng” về quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài, không quan tâm đến lợi ích của nước chủ nhà tiếp nhận đầu tư. Theo Luật đầu tư của Việt Nam thì đầu tư nước ngoài (ĐTNN) - là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấpnhận. Theo Điều 3 của Luật Đầu tư: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” còn “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mualại”. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Doanh nghiệp FDI) là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bao gồm: - Doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài. - Doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước 1. Vai trò của doanh nghiệp FDI 5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã tăng mạnh kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2017. Nhất là sau khi Việt Nam ký kết và tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA), trở thành nền kinh tế có độ mở lớn (đạt hơn 200% GDP năm 2018).
Sau hơn 30 năm mở cửa, hội nhập và cải cách môi trường kinh doanh, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài. Nguồn vốn FDI vào Việt Nam đã tăng mạnh, số vốn đăng ký và số vốn thực hiện đều có sự cải thiện so cùng kỳ các năm (Hình 1). Số liệu thu hút đầu tư FDI trong quý I/2019 là minh chứng cụ thể. Theo đó, tổng vốn đăng ký 3 tháng đầu năm 2019 đạt 10,8 tỷ USD, tăng 86,2% so với cùng kỳ quý I/2018.
Trong đó, 785 dự án đăng ký mới đạt tổng A vốn 3,8 tỷ USD (tăng 80%); vốn góp, mua cổ phần đạt gần 5,7 tỷ USD (tăng hơn 200%); Giải ngân vốn FDI đạt 4,12 tỷ USD (tăng 6,2%) so với cùng kỳ năm 2018. Nguồn: Tổng cục thống kê (2019), Việt Nam - Số liệu thống kê chủ yếu quý I năm 2019; Tổng cục thống kê (2018), Niên giám thống kê 2018 Hình 1.1: Tình hình thu hút FDI vào Việt Nam Lũy kế đến cuối quý I/2019, cả nước có 28.125 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 346,5 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án FDI ước đạt 195,6 tỷ USD, bằng 56,4% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực. Đánh giá theo ngành hoạt động, NĐT nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành 6 kinh tế quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với gần 201,2 tỷ USD (chiếm 58% tổng vốn đầu tư).
Tiếp đến là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản (BĐS) với 58,2 tỷ USD (chiếm 16,8% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện, khí nước với 23 tỷ USD (chiếm 6,6% tổng vốn đầu tư). Với vị trí và tầm quan trọng đó, có thể điểm lại tình hình thu hút đầu tư FDI vào Việt Nam theo những trọng tâm cụ thể sau: Nâng cao năng lực công nghệ của Việt Nam bằng việc chuyển giao công nghệ qua các dự ánFDI. Thông qua các dự án FDI, công nghệ cũng được chuyển giao. Điều này đã góp phần nâng cao năng lực công nghệ còn hạn chế của Việt Nam.
Cùng với chuyển giao công nghệ, các dự án FDI cũng góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho vận hành và quản lý. Nhờ đó đã nâng cao trình độ, tay nghề của người lao động. Đối với một số khâu chủ yếu của dây chuyền công nghệ tiên tiến hoặc đặc thù, lao động sau khi tuyển dụng được đưa đi bồi dưỡng ở các doanh nghiệp mẹ ở nước ngoài. Đến nay, hầu hết các công nghệ có trình độ tiên tiến và đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật cao ở Việt Nam được tập trung trong khu vực có vốnFDI.
- Đẩy mạnh xuấtkhẩu Doanh nghiệp FDI vẫn tiếp tục giữ vị trí “đầu tàu” trong việc tạo giá trị xuất khẩu. Tỷ trọng xuất khẩu FDI chiếm khoảng 40% trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tiếp tục tăng lên qua các năm. Nếu năm 2004, khối này chiếm 34% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thì đến năm 2017 tăng lên 39,7% và năm 2018 chiếm khoảng 50%. Nếu tính cả dầu thô, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 34,5 tỷ USD, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Doanh nghiệp FDI tham gia xuất khẩu hầu hết các mặt hàng chủ lực, đặc biệt là các mặt hàng công nghiệp như hàng dệt may chiếm tỷ trọng 59%. Theo thống kê, xuất khẩu 10 mặt hàng chủ lực của doanh nghiệp FDI chiếm 27,5% tổng kim ngạch xuất khẩu năm2018. - Tạo việclàm 7 Các doanh nghiệp FDI đã góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động. Con số người lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng.
Năm 2004, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI chỉ khoảng 952 nghìn người. Tính đến năm 2019, khu vực FDI tạo việc làm cho 3,7 triệu lao động trực tiếp và khoảng 5 - 6 triệu lao động gián tiếp Bên cạnh việc tạo ra việc làm, các doanh nghiệp FDI còn góp phần nâng cao chất lượng lao động. Biểu hiện cụ thể là trình độ chuyên môn, tay nghề của những lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI được nâng cao rõ rệt. - Đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhànước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước.
Con số đóng góp ngày càng tăng qua các năm. Thời kỳ 1996-2000, nguồn thu ngân sách từ doanh nghiệp FDI khoảng 1,49 tỷ USD. Thời kỳ 2001- 2005con số này là 3,6 tỷ USD, gấp 2,4 lần thời kỳ 1996-2000. Trong 3 năm 2016- 2018, nguồn thu ngân sách từ doanh nghiệp FDI khoảng 5 tỷ USD, trong đó: năm 2016 là 1,47 tỷ USD, năm 2017 là 1,57 tỷ USD và năm 2018 là 1,98 tỷUSD.
Bên cạnh những đóng góp tích cực như đã khái quát trên, doanh nghiệp FDI cũng đã và đang tạo ra không ít vấn đề, tác động tiêu cực, làm bức xúc dư luận xã hội. Chất lượng thu hút FDI còn thấp, thiếu tính bền vững là một thực tế khó bác bỏ. Biểu hiện rõ nhất của hạn chế này là phần giá trị gia tăng còn thấp. Phần lớn các doanh nghiệp FDI tập trung khai thác lợi thế lao động rẻ, nguồn tài nguyên sẵn có, thị trường tiêu thụ “dễ tính” để lắp ráp, gia công sản phẩm tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
Quy mô đầu tư của khu vực này ở mức vừa và nhỏ là chủ yếu. Liên kết giữa khu vực FDI với các doanh nghiệp nội địa còn rất ít, chưa hình thành được các ngành công nghiệp phụ trợ, liên kết sản xuất theo chuỗi cung ứng hàng hoá. Bảo vệ môi trường chưa được chú ý đến, thiếu tính phát triển bền vững, nhiều doanh nghiệp không có hệ thống xử lý chất thải hoặc có nhưng chưa bảo đảm các tiêu chuẩn về xử lý chất thải bảo vệ môi trường. Hậu quả gây ô nhiễm môi trường từ các dự án FDI đang được bộc lộ rõ và làm huỷ diệt môi trường sống nghiêm trọng.
Sự cần thiết và vai trò cho các doanh nghiệp FDI vay đối với ngân hàng 8 1. Đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệpFDI Cũng như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp FDI cũng có nhu cầu vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặc dù các doanh nghiệp này được hậu thuẫn từ nguồn vốn của chủ đầu tư là cá nhân nước ngoài hoặc công ty mẹ, các doanh nghiệp này vẫn có nhu cầu vay vốn tại các ngân hàng của nước sở tại. Điều này xuất phát từ nhiều nguyênnhân.
Thứ nhất, nguồn lực tài chính của các chủ đầu tư không phải là vô hạn, chưa kểngay bản thân các chủ đầu tư này cũng có khi phải vay vốn ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của bản thânmình. Thứ hai, công ty mẹ có thể có nhiều công ty con. Việc tăng vốn đầu tư cho công ty con đặt ở thị trường nào một phần dựa vào đánh giá tiềm năng phát triển tại thị trường đó. Và chưa chắc các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam nằm ở vị trí ưu tiên được đầu tư thêm vốn.
Để có thể chủ động đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp FDI rất cần đến nguồn vốn vay ngân hàng tại nước sở tại. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI có nhu cầu kết hợp sử dụng nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng như: thanh toán trong nước và quốc tế, mua bán ngoại tệ, chiết khấu, chi lương. Ảnh hưởng từ hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI đối với ngânhàng - Tạo ra thu nhập từ hoạt động chovay Hiện nay, hoạt động cho vay vẫn là mảng hoạt động chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam với mức bình quân chiếm trên 50% tổng tài sản. Thu nhập từ lãi vay vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nhập của các ngân hàng.