CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN (CVKHCN) 1. Khái niệm Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.[9] Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, Cho vay KHCN được hiểu là các khoản cho vay có chủ thể đứng tên vay là thể nhân. Tùy theo mục đích tài trợ, Cho vay KHCN có thể phân chia thành 2 loại hình chủ yếu: - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Là Cho vay tài trợ các nhu cầu bổ sung vốn lưu động thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, thanh toán tiền vật tư, nguyên liệu, hàng hóa và các chi phí sản xuất kinh doanh cần thiết, hoặc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải… của các hộ kinh doanh cá thể - Cho vay tiêu dùng: Là Cho vay để tài trợ cho các nhu cầu tiêu dùng là cá nhân và hộ gia đình, bao gồm các nhu cầu về nhà ở, xe cộ, mua sắm các vật dụng gia đình, cưới hỏi, du lịch, du học chữa bệnh….
Đặc điểm Cho vay KHCN có những đặc điểm riêng thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác như sau: Ø Đối tượng cho vay Chủ thể đi vay trong CVKHCN là những cá thể không xác định như Luan van 7 một người hay một hộ gia đình. Khác với cho vay KHDN, trong CVKHCN khách hàng vay vốn không phải là những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân thông thường mà sẽ là: Những người buôn bán nhỏ, nông dân, sinh viên, nhân viên văn phòng, phụ nữ, cơ sở sản xuất nhỏ. hoặc là đại diện hộ gia đình. Những cá thể này có nhu cầu sử dụng các dịch vụ Ngân hàng như khi họ cần tiền để mua nhà, mua ô tô, tiêu dùng cá nhân.
hay thậm chí vay vốn để kinh doanh sản xuất nhỏ. Ø Mục đích vay vốn Mục đích vay vốn của KHCN được chia thành 2 nhóm chủ yếu: Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân, hộ gia đình - Nhóm 1: CVKHCN chủ yếu đáp ứng nhu cầu chi tiêu, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ những hàng hóa có chất lượng tốt để cải thiện đời sống, nhằm hỗ trợ tối đa nhu cầu vay vốn phục vụ mục đích tiêu dùng của khách hàng. Đó là những nhu cầu tiêu dùng mang tính thiết yếu và ý nghĩa trong cuộc sống mỗi cá nhân, gia đình như: Mua sắm nhà cửa, nội thất, mua phương tiện như xe máy, ô tô. - Nhóm 2: Cho vay KHCN để phục vụ nhu cầu sản xuất nhưng những khoản vay này thường là những khoản vay nhỏ chủ yếu là để mở rộng sản xuất của hộ gia đình, cơ sở sản xuất nhỏ, nhằm giúp KHCN hoạt động hiệu quả trong suốt chu kỳ kinh doanh của mình.
Ø Quy mô khoản vay và chi phí thẩm định Thông thường quy mô mỗi khoản vay của KHCN nhỏ hơn các khoản vay của doanh nghiệp, do Cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ nên quy mô một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của Ngân hàng.Tuy vậy, ở các NHTM số lượng các khoản vay KHCN thường lớn, đòi hỏi Ngân hàng phải Luan van 8 có những chiến lược tiếp cận khách hàng, marketing riêng biệt, cụ thể, mang lại sự gần gũi, tin tưởng và yên tâm cho khách hàng vay vốn. Đặc biệt ở các NHTM hoạt động theo định hướng Ngân hàng bán lẻ thì số lượng này là rất lớn, do đó chung quy lại tổng dư nợ các khoản vay KHCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của Ngân hàng. Về chi phí thẩm định khoản vay: Chính do đặc điểm của các khoản vay KHCN thường có quy mô nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lại thường lớn, bên cạnh đó việc thu thập thông tin về khách hàng cá nhân là rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn, nên công việc thẩm định các khoản vay đối với khách hàng cá nhân thường phải tốn nhiều chi phí hơn so với việc cho vay doanh nghiệp. Ø Nguồn trả nợ Khác với cho vay KHDN, Ngân hàng tài trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện dự án và nguồn trả nợ là lợi nhuận của chính phương án kinh doanh đem lại, thông thường nguồn trả nợ của KHCN là trích từ nguồn thu nhập ổn định hàng tháng mà không nhất thiết phải từ kết quả sử dụng của những khoản vay.
Do đó, nguồn trả nợ của người đi vay có thể biến động lớn, nó phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của khách hàng. Nguồn trả nợ của KHCN là tổng các khoản thu nhập thường xuyên của họ, vì vậy khi cho vay Ngân hàng phải xem xét một cách tổng thể đến hoàn cảnh sống, nơi làm việc, lương bổng của khách hàng vay. Nghề nghiệp của người vay phải ổn định, phải được quan tâm thích đáng, nhìn chung những cán bộ viên chức nhà nước, bác sĩ, giáo viên, nhân viên của các công ty, tập đoàn kinh tế lớn. được coi là những người có thu nhập ổn định và ít rủi ro hơn đối với những người làm việc tự do, không có chế độ.
Ø Mức độ rủi ro của các khoản vay Mục tiêu trong hoạt động của các NHTM là các khoản cho vay phải Luan van 9 đảm bảo là các khoản tín dụng có chất lượng tốt, tuy vậy các khoản cho vay đối với KHCN này chỉ tốt khi ở phía khách vay không xảy ra các biến cố. Các khoản vay cá nhân cũng thường chứa đựng rủi ro tiềm ẩn về tính mất đối xứng về thông tin phía khách hàng cung cấp, chính vì vậy các NHTM thường áp dụng một mức lãi suất đối với CVKHCN cao hơn đối với CVKHDN. Hơn nữa, CVKHCN có đặc điểm là nguồn trả nợ chủ yếu là thu nhập thường xuyên của người vay, ví dụ như: lương, thưởng ., do đó Ngân hàng sẽ có thể phải đối mặt với rủi ro không thu hồi được nợ vì: Tình hình tài chính của cá nhân hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc hay sức khỏe của họ. Trường hợp điển hình hay xảy đến với các NHTM trong cho vay tiêu dùng là: Có thể một cá nhân vào thời điểm đi vay họ có công việc với một mức thu nhập ổn định, đảm bảo trả nợ được cho Ngân hàng trong tương lai theo thẩm định của cán bộ tín dụng, nhưng trong thời gian vay vốn, công ty của họ giảm bớt biên chế, cá nhân này đột nhiên mất việc làm, đồng nghĩa với việc họ không còn nguồn thu nhập thường xuyên để trả nợ và kéo theo Ngân hàng gặp phải rủi ro: khoản nợ này trở này nợ xấu và có thể sẽ không thu hồi được nợ vay.
Việc thẩm định và quyết định cho vay đối với khoản vay KHCN thường gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ. Các thông tin của cá nhân thường không rõ ràng và minh bạch như các Báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Trong khi các doanh nghiệp có Báo cáo kiểm toán thì các cá nhân lại dễ dàng giữ kín các thông tin vể triển vọng công việc cũng như tình trạng sức khỏe của mình. Trong quá trình thẩm định thông tin khách hàng vay vốn, cán bộ tín dụng cũng sẽ tiến hành thẩm định về tình trạng công việc, thu nhập, sức khỏe từ việc khai thác cơ quan công tác và các mối quan hệ xã hội của khách hàng, tuy nhiên những thông tin này nếu khách hàng chủ động sắp đặt và lừa đảo từ ban đầu sẽ rất khó khăn cho cán bộ Ngân hàng.
Luan van 10 CVKHCN có tính nhạy cảm theo chu kỳ của nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, cuộc sống của người dân được cải thiện, các nhu cầu CVKHCN (nhất là cho vay tiêu dùng) có xu hướng gia tăng và ngược lại nếu nền kinh tế rơi vào suy thoái, chi tiêu của các hộ gia đình phải dè dặt để còn tích lũy cho tương lai thì nhu cầu vay vốn của các KHCN sẽ giảm đi rất nhiều. Do tính chất không ổn định như vậy nên các khoản CVKHCN sẽ có mức độ rủi ro cao. Ø Lãi suất cho vay cao Do qui mô các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản vay mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản vay này) cao, đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng khá cao.
Do vậy, lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM. Từ trước đến nay, Cho vay khách hàng cá nhân vẫn được coi là khoản mục mang lại lợi nhuận khá cao với lãi suất “cứng nhắc”. Điều đó có nghĩa là nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của Ngân hàng, không như hầu hết các khoản vay khác hiện nay thường xuyên được điều chỉnh theo lãi suất thị trường, như vậy Ngân hàng vẫn có khả năng gặp phải rủi ro lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên. Tuy nhiên, các khoản vay này thường được định giá rất cao (vì đã bao hàm cả một phần bù rủi ro lãi suất) đến mức chỉ khi bản than lãi suất vay vốn trên thị trường và tỷ lệ tổn thất tín dụng cùng tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản Cho vay KHCN mới không mang lại lợi nhuận.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay - Cho vay từng lần: Là các khoản vay ngắn hạn của cá nhân hay hộ kinh doanh cá thể nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn. Các khoản vay này thường có quy mô nhỏ, phần lớn dùng để chi trả cho những mục đích thiếu vốn tạm thời của Luan van 11 các cá nhân trong các trường hợp như mua sắm các đồ dùng giá trị lớn, xây nhà mới, … - Cho vay theo hạn mức: Là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức cho vay. Hạn mức này có thể là cả kì hoặc cuối kì.