Chương 1 giới thiệu sơ lược về cấu trúc da người, mục tiêu đề tài; phương pháp nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiêm cứu; sản phẩm dự kiến và bố cục luận văn. 3 Chương 2 trình bày về mô hình vật liệu Ogden, các phương trình và phương pháp xây dựng mô hình vật liệu Ogden đối với tấm màng mỏng. Chương 3 mô tả rõ hơn về phương pháp xác định chuyển vị da người từ thực nghiệm, giới thiệu về 2 phần tử PLANE 183 và SOLID186, trình bày chi tiết hơn về đối tượng nghiên cứu của luận văn. Chương 4 trình bày chi tiết hơn về việc mô phỏng kiểm chứng thông số vật liệu bằng phương pháp phần tử hữu hạn, quy trình và kết quả mô phỏng mô hình FE cho da người.
Trong chương này, một số kết quả mô phỏng ứng xử da người trong điều trị vết thương hở cũng được thể hiện. Chương 5 tiến hành đưa ra nhận xét và kết luận về các nội dung đạt được, những hạn chế cũng như hướng phát triển của luận văn.1 Mô hình vật liệu cho da người 2.1 Lựa chọn mô hình vật liệu siêu đàn hồi Vật liệu siêu đàn hồi là một loại mô hình dành cho vật liệu đàn hồi lý tưởng trong đó mối quan hệ ứng suất – biến dạng được cấu thành từ hàm mật độ năng lượng, và là một trường hợp đặc biệt của của vật liệu đàn hồi Cauchy. Tính siêu đàn hồi cung cấp phương tiện mô hình hóa ứng xử ứng suất – biến dạng của vật liệu đó. Ronald Rivlin và Melvin Mooney đã phát triển những mô hình siêu đàn hồi đầu tiên, đó là mô hình Neo-Hookean và Mooney – Rivlin solid.
Ngoài ra còn một số một hình vật liệu siêu đàn hồi khác cũng được sử dụng rộng rãi bao gồm mô hình Ogden và mô hình Arruda – Boyce. Một số nhà nghiên cứu đã nghiên cứu đặc tính cơ học của da và phát triển các mô hình da để mô tả ứng xử của nó. Thông thường, các nghiên cứu này tập trung vào thí nghiệm kéo đơn trục của da, với lý do, điều đó sẽ tạo nên nếp nhăn khi nén trong mặt phẳng và có độ cứng tối thiểu. Trong luận văn này, mô hình da người được giải định là tấm màng mỏng, có tính đẳng hướng và không nén được.
Mô hình Ogden cung cấp cho kết quả chính xác tại các biến dạng vừa phải nhưng dễ dàng thực hiện hơn các mô hình vật liệu siêu đàn hồi khác như mô hình Fung hoặc Arruda – Boyce. Các kết quả của Evans [11] cũng chứng minh rằng mô hình Ogden có thể cung cấp một số liệu gần đúng với các số liệu thực nghiệm.2 Giới thiệu mô hình vật liệu Ogden a. Sơ lược về Raymond William Ogden Raymond William Ogden được sinh ra vào năm 1943 tại Vương Quốc Anh, vào giữ những năm 1967 đến 1970, ông theo học chương trình tiến sĩ tại đại học Cambrigde với sự hướng dẫn của giáo sư Rodney Hill trong lĩnh vực cơ học. Luận văn của ông về đề “Mối quan hệ cấu thành nên vật liệu Đàn hồi và vật Dẻo”.
5 Sau khi tốt nghiệp chương trình tiến sĩ vào năm 1970, ông trở thành nhà nghiên cứu tại Đại học East Angela, Anh. Vào năm 1972, ông công bố bài báo khoa học với tựa đề “Biến Dạng Lớn Đàn Hồi Đẳng Hướng: Mối Tương Quan Giữa Lý Thuyến Và Thực Nghiệm Đối Với Cao Su Nén Được Dạng Khối” (tên tiếng Anh: “Large Deformation Isotropic Elasticity: On the Correlation of Theory and Experiment for Compressible Rubber like Solids”). Ogden tin rằng việc thể hiện năng lượng biến như là hàm của nhiều biến số biến dạng độc lập có tác động làm phức tạp hóa phân tích toán học, đặc biệt là trong việc tính toán Modulus đàn hồi tức thời. Ông sử dụng trực tiếp các giãn dài chính như là các giá trị độc lập để xây dựng nên phương trình năng lượng biến dạng, mô hình được đề xuất đủ đơn giản để có thể dùng phân tích toán học, và mô hình của ông còn phù hợp để biểu diễn các đặc tính cơ học của cao su dạng khối.
Ngoài ra, trong bài báo nêu trên cũng cho thấy sự thống nhất giữa lý thuyết và dữ liệu thực nghiệm. Mô hình vật liệu Ogden Mô hình Ogden được áp dụng cho những vật liệu siêu đàn hồi đẳng hướng giống như cao su. Đặc tính chính của nó thể hiện qua hàm năng lượng biến dạng W (trên một đơn vị thể tích của trạng thái không biến dạng) được biểu diễn thông qua các độ giãn chính i , là các trị riêng của tensor giãn dài U. Quan hệ tương ứng có dạng: r r W i 1 2r 3r 3 , 1 n m (2.1) r r Trong đó, r , r là các tham số vật liệu, và các độ giãn chính có quan hệ như sau: 1.2) Hàm biến dạng năng lượng (2.1) đối với vật liệu Ogden được đưa trở lại hàm năng lượng của vật liệu Mooney-Rivlin khi chọn thông số vật liệu thỏa các điều kiện sau: m 2,1 2,2 2; 1 2C1, 2 2C2 (2.4) Trong đó, C1, C2 là hằng số vật liệu của mô hình Mooney-Rivlin.
Ứng dụng và giới hạn của mô hình Ogden: Mô hình Ogden có tính linh hoạt và có thể sử dụng rộng rãi trong các loại quan hệ cấu thành nên tính siêu đàn hồi khác nhau. Kết quả mô phỏng có thể chính xác toàn bộ phạm vi biến biến dạng của vật liệu cao su. Là mô hình lý tưởng được sử dụng mô tả các bài toán biến dạng lớn. Khi mô hình bậc cao, độ chính xác yêu cầu có thể đạt được ngay cả khi biến dạng đạt đến 700%.
Thích hợp để mô tả Modulus cắt không liên tục và ứng xử của vật liệu nén được. Mô hình có thể mô tả sự gia tăng độ cứng nhanh chóng trong giai đoạn cuối của biến dạng. Các hằng số vật liệu xác định bởi một loại thí nghiệm không thể được dùng dự đoán một loại biến dạng khác. Nó không được khuyến khích sử dụng trong trường hợp không có đủ dữ liệu thực nghiệm, chẳng hạn như dữ liệu thử nghiệm kéo đơn trục.2 Mô hình vật liệu Ogden đối với tấm màng mỏng 2.1 Tính toán ứng suất Trong mục này sẽ trình bày những phương trình cấu thành đối với vật liệu có đặc tính tương tự cao su không nén được.
Các ứng dụng của các phương trình này cho màng mỏng và sự tuyến tính hóa của các quan hệ ứng suất-biến dạng cũng được đưa ra. Tọa độ các điểm trên bề mặt của tấm màng mỏng được ký hiệu là (ξ, η) (hệ tọa độ địa phương).Vector vị trí hiện tại x(ξ, η) = xiei và vector vị trí trước đó X(ξ, η) = Xiei, có liên hệ với nhau thông qua biểu thức x = X + u, trong đó u = uiei biểu thị cho vector chuyển vị, với các thành phần liên quan đến hệ tọa độ Descartes ei. Sau đó Tensor biến dạng của tấm màng mỏng Eαβ được xác định theo phương trình sau: 7 1 E g G 2 (2.5) Trong đó g , G là hệ số sau khi biến dạng và trước khi biến dạng tương ứng [2] và được xác định theo phương trình sau: g x, x, G X , X , (2.1 Mô hình liên tục trước và sau khi biến dạng Với phương trình (2.6) độ giãn dài chính λ1 và λ2 sẽ được xác định. Vì tensor giãn dài U có thể được xác định thông qua tesor đối xứng Cauchy-Green C, C = U2, các độ giãn dài chính λα sẽ được xác định theo phép biến đổi trực giao C RCRT (2.7) Trong đó: g g12 cos sin 12 0 C 11 , R , C (2.8) g 21 g 22 sin cos 0 2 2 8 Sử dụng điều kiện không nén được (2.2), phương trình (2.1) chỉ phục thuộc vào độ giãn dài 1 và 2 : W r 3 1 2 r r r (2.9) r r 1 2 Khi mô hình được giả định là vật liệu siêu đàn hồi, tensor ứng suất bậc hai Piola- Kirchhoff S là đạo hàm của hàm mật độ năng lượng W theo các thành phần biến dạng.10) E 1 E 2 E Do giả định ứng suất phẳng nên ứng suất Sα3 biến mất.
Tiếp theo, các giá trị S của tensor ứng suất chính bậc hai Piola – Krichhoff được xác định thông qua phương trình (2.11) r Các giá trị độ giãn chính của tensor ứng suất Cauchy được xác định bởi phương trình sau: r 2 S r r 12 (2.12) r Khi đó, ứng suất S được xác định: S TT Sˆ (2.14) S 12 0 9 Phương trình (2.9) cũng có thể suy ra bằng cách biến đổi các ứng suất chính T S RSR (2.15) Trong đó S 11 S 12 cos sin S 0 S 21 , R , S 0 S 1 (2.16) S S sin cos 22 2 Đối với vật liệu đẳng hướng góc xoay được xác định [2] 1 2 g12 arctan (2.15), thu được ứng suất được biến đổi (2. Đối với vật liệu đẳng hướng sử dụng góc quay φ từ (2.13), vì C và S có cùng trị riêng.2 Tuyến tính hóa tensor ứng suất bậc hai Piola – Krichhoff Trong mục này, phương trình (2.13) sẽ được tuyến tính hóa. Do đó, cần xác định đạo hàm của S theo E. Ma trận độ cứng CT được xác định như sau: [2] S 11 S 11 S 11 E11 E22 2 E12 S 22 S 22 S 22 CT TT CT (2.19) 4 1 1 1 2 1 1222 2 1 0 1 2 1222 1 1 24 2 2 2 2 0 1 2 S1 S 2 cos 2 0 0 g11 g12 Đạo hàm các ứng suất Cauchy từ phương trình (2.