Luận Văn Thạc Sĩ Về Tính Toán Tải Giới Hạn Cho Tấm Mindlin Sử Dụng Phương Pháp Không Lưới

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kỹ thuật xây dựng tính toán tải giới hạn cho tấm mindlin sử dụng phương pháp không lưới meshfree, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Bách Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

102
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Phân tích giới hạn (limit analysis) là một lĩnh vực quan trọng trong Cơ học, tập trung vào việc đánh giá sự làm việc của kết cấu ở trạng thái gãy đổ và phá hủy. Đặc biệt, phân tích giới hạn cho kết cấu dạng tấm, như tấm Mindlin, ngày càng trở nên phổ biến trong các lĩnh vực như Xây dựng, Cơ khí, và Hàng không. Nghiên cứu này nhằm tính toán tải trọng giới hạn cho tấm Mindlin bằng phương pháp không lưới, cụ thể là phương pháp Element-Free Galerkin (EFG). Phương pháp này cho phép xác định chính xác tải trọng gãy phá hủy, từ đó đưa ra các giá trị thiết kế phù hợp, góp phần nâng cao độ an toàn cho kết cấu. Việc áp dụng lý thuyết tấm Mindlin trong nghiên cứu này giúp đánh giá chính xác hơn ảnh hưởng của chiều dày tấm lên tải trọng giới hạn, điều mà lý thuyết Kirchoff không thể thực hiện. Theo lý thuyết Mindlin, mọi biến dạng đều được xem xét, bao gồm cả biến dạng trượt, giúp tăng độ chính xác của tính toán.

II. Phương pháp không lưới

Phương pháp không lưới, cụ thể là phương pháp Element-Free Galerkin (EFG), được áp dụng trong nghiên cứu này nhằm khắc phục những hạn chế của phương pháp phần tử hữu hạn (FEM). Phương pháp FEM thường gặp khó khăn khi giải quyết các bài toán có biến dạng lớn và không thể mô phỏng chính xác sự phát triển của vết nứt. EFG không yêu cầu tạo lưới như FEM, điều này giúp giảm thiểu khối lượng công việc và tăng tính linh hoạt trong việc thêm hoặc xóa nút. Phương pháp này cho phép xấp xỉ các hàm dạng bậc cao, từ đó cải thiện tính hội tụ của bài toán. Việc sử dụng EFG trong nghiên cứu này không chỉ giúp giải quyết các vấn đề phức tạp mà còn mang lại kết quả tính toán nhanh chóng và chính xác hơn. Điều này rất quan trọng trong việc xác định tải giới hạn cho tấm Mindlin, khi mà các điều kiện biên và tính chất vật liệu có thể thay đổi.

III. Tính toán tải trọng giới hạn

Trong nghiên cứu này, quá trình tính toán tải trọng giới hạn cho tấm Mindlin được thực hiện thông qua việc thiết lập bài toán tối ưu. Các biến trong bài toán sẽ được chuẩn hóa về dạng tối ưu hình nón bậc hai (SOCP) để sử dụng chương trình giải thương mại Mosek. Các ví dụ số được nghiên cứu bao gồm tấm hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn và hình chữ L với các điều kiện biên khác nhau. Kết quả thu được sẽ được so sánh với các nghiên cứu trước đó để xác minh tính hiệu quả và độ tin cậy của phương pháp. Việc tính toán tải trọng giới hạn sẽ giúp xác định chính xác khả năng chịu lực của tấm Mindlin, từ đó góp phần vào việc thiết kế và xây dựng các kết cấu an toàn hơn.

IV. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng phương pháp không lưới, đặc biệt là EFG, là một công cụ mạnh mẽ trong việc tính toán tải trọng giới hạn cho tấm Mindlin. Kết quả tính toán cho thấy phương pháp này không chỉ mang lại độ chính xác cao mà còn giảm thiểu thời gian tính toán. Các kiến nghị cho nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc mở rộng ứng dụng của phương pháp này cho các loại kết cấu phức tạp hơn, cũng như việc phát triển các thuật toán tối ưu hóa mới nhằm nâng cao hiệu quả tính toán. Việc nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của các yếu tố như chiều dày và điều kiện biên đến tải trọng giới hạn cũng là một hướng đi tiềm năng cho các nghiên cứu trong tương lai.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Giới thiệu khắc phục những điều khó khăn nói trên của FEM. Ý tưởng của phương ph|p không lưới được ph|t triển dựa trên kỹ thuật xấp xỉ bình phương cực tiểu[1], nhưng ở phương ph|p không lưới sẽ không chia các phần tử như trong FEM m{ thay v{o đó c|c nút sẽ đại diện cho vùng được bao quanh. Một điểm thuận lợi của phương ph|p không lưới l{ việc thêm v{o hay xóa bớt c|c nút được thực hiện một c|ch dễ d{ng, linh hoạt, c|c vùng tập trung ứng suất ngay tại đỉnh vết nứt ta có thể dễ d{ng thêm v{o c|c điểm nút để đạt được độ chính x|c mong muốn.

Vì không phải tạo lưới nên việc tính to|n v{ mô phỏng sẽ giảm được khối lượng công việc đ|ng kể. Ngoài ra, phương ph|p không lưới có thể xấp xỉ sử dụng c|c h{m dạng bậc cao, nên tính hội tụ sẽ tốt hơn FEM. Một trong những phương ph|p không lưới được đ|nh gi| l{ cho kết quả tốt, chính x|c v{ đ|ng tin cậy l{ phương ph|p không lưới EFG. Vì vậy trong nghiên cứu n{y phương ph|p không lưới EFG l{ phương ph|p số sẽ được sử dụng để rời rạc hóa kết cấu.

Phương ph|p n{y lần đầu tiên được đưa ra bởi Belytschko và các cộng sự v{o năm 1994[1].2 Tình hình nghiên cứu đề tài Cùng với sự ph|t triển của lý thuyết dẻo, lý thuyết ph}n tích giới hạn được nghiên cứu v{ ph|t triển từ rất sớm. Lý thuyết ph}n tích giới hạn được x}y dựng dựa v{o hai định lý cận trên v{ cận dưới được công bố đầu tiên bởi Drucker, Prager, Greenberg (1952) cho vật liệu đ{n hồi – dẻo lý tưởng v{ Hill với quan điểm vật liệu cứng dẻo lý tưởng (rigid – perfectly plastic). Sau đó, Prager (1972) và Martin (1975) đ~ có những đóng góp tạo bước ngoặt cho sự ho{n thiện v{ ph|t triển của lý thuyết ph}n tích giới hạn. Những đóng góp quan trọng để giải quyết c|c b{i to|n ph}n tích giới hạn kết cấu có thể kể đến l{ c|c công bố của Hodge (1959, 1961, 1963), tiếp đó l{ c|c công bố của Học viên: Nguyễn Tấn Nhơn Trang 6 Luận văn Thạc sỹ Chương 1.

Giới thiệu Massonnet & Save (1967, 1972). Kể từ đó ph}n tích giới hạn có thêm nhiều sự quan t}m v{o sự ph|t triển cả về lý thuyết cũng như ứng dụng của nó v{o các vấn đề kỹ thuật, xem Chakrabarty (1988); Chen & Han (1988); Lubliner (1990); Kamenjarzh (1996); v{ gần đ}y bởi Jirasek & Bazant (2002). Để giải quyết b{i to|n ph}n tích giới hạn, có 2 c|ch tiếp cận kh|c nhau. C|ch thứ nhất là: tiến h{nh ph}n tích từng bước với sự gia tăng nhỏ của tải trọng v{ thực hiện theo phương ph|p lặp Newton- Raphson (Argyris (1967) )[28]; Marcal& King (1967); Zienkiewicz v{ cộng sự (1979)) hoặc sử dụng chương trình to|n học (mathemmatical programming – Maier, 1968)[29]; Cohn & Maier (1979)), việc ph}n tích từng bước cho phép ta biết được to{n bộ qu| trình ph|t triển của biến dạng dẻo, nhưng không có lợi về mặt tính to|n số do phải thực hiện qu| trình lặp nhiều lần.

Còn c|ch thứ 2 giúp ta tìm được tải trọng giới hạn khi kết cấu đạt tới trạng th|i ph| hủy m{ không cần thực hiện c|c bước ph}n tích trung gian đó l{ “phương ph|p ph}n tích trực tiếp tải trọng giới hạn”. Phương ph|p n{y có tính thực dụng v{ quá trình tính toán cũng đơn giản hơn. Sự ph|t triển của phương ph|p x|c định trực tiếp tải trọng giới hạn l{ kết quả của c|c t|c giả Brion & Hodge (1967); Hodge & Belytschko (1968)[2]; Neal (1968); Maier (1970); Nguyễn Đăng Hưng (1976)[30]; Christiansen (1980); Casciaro & Cascini (1982), cùng một số t|c giả kh|c. Ứng dụng ph}n tích giới hạn cho tấm được thực hiện đầu tiên bởi Hodge & Belytschko (1968)[2], trong b{i b|o c|c t|c giả đ~ sử dụng phần tử hữu hạn để rời rạc tấm v{ dùng kỹ thuật SUMT (Sequential Unconstrainned Minimisation Technique) để tính kết quả cho b{i to|n tối ưu.

Một điều thú vị rằng kết quả của lời giải l{ rất tốt dù rằng thực tế hệ lưới sử dụng rất thô v{ chưa tương Học viên: Nguyễn Tấn Nhơn Trang 7 Luận văn Thạc sỹ Chương 1. Giới thiệu hợp (incompatible) với phần tử hữu hạn được dùng. Sau đó có c|c nghiên cứu về ph}n tích giới hạn tấm như sau: Lubliner (1990)[19] đưa ra một số kết quả ph}n tích giới hạn cận trên v{ cận dưới cho tấm hình vuông; Andersen & Christiansen (1998)[15] dùng phần tử kết hợp (Mixed element) v{ đưa về dạng cực tiểu hóa tổng của d~y số (minimizing a sum of norms) để tính tải giới hạn cho tấm hình vuông; Capsoni & Corradi (1999)[13] dùng phương ph|p phần tử hữu hạn để rời rạc hóa kết cấu v{ dùng thuật to|n lặp trực tiếp (direct iterative) để ph}n tích giới hạn cho tấm hình vuông v{ chữ nhật theo c|c lý thuyết Kirchoff v{ Mindlin với một số điều kiện biên kh|c nhau; tiếp dó Capsoni & Vicente da Silva (2009)[14] đ~ đưa ra lời giải cho các b{i to|n tấm hình tròn chịu tải tập trung v{ ph}n bố đều với biên ng{m v{ biên tựa đơn theo lý thuyết Mindlin. Và gần đ}y nhất là c|c nghiên cứu được công bố của Lê Văn Cảnh[9] [10] đ~ cho được c|i nhìn kh| đầy đủ ph}n tích giới hạn cho tấm, về phương ph|p không lưới EFG cũng như c|ch giải b{i to|n tối ưu sử dụng SOCP, sau đ}y giới thiệu 4 b{i b|o quan trọng:  (i) Limit analysis of plates using the EFG method and second-order cone programming (2009).

Trong bài báo này t|c giả đ~ tiến h{nh tính to|n tải trọng giới hạn cho tấm theo lý thuyết Kirchoff, sử dụng tiêu chuẩn chảy dẻo von Mises, c|c định lý cận trên được sử dụng để th{nh lập b{i to|n tối ưu, v{ b{i to|n tối ưu được chuẩn hóa về dạng tối ưu hình nón bậc hai để giải theo chương trình Mosek đ~ lập trình sẵn. Trong bài b|o n{y đ~ tiến h{nh ph}n tích giới hạn cho tấm với hệ lưới nút theo từng bước lặp sẽ được chia lại để thích ứng với những vùng cần thiết, c|c tấm được khảo s|t l{ chữ nhật v{ tấm L Học viên: Nguyễn Tấn Nhơn Trang 8 Luận văn Thạc sỹ Chương 1. Giới thiệu với 2 biên tựa, tấm tròn biên ng{m chịu lực tập trung ở t}m v{ tấm chữ nhật có lổ. Trong b{i b|o n{y, cả hai b{i to|n cận trên v{ cận dưới đều sử dụng tiêu chuẩn von Mises, bài toán cận trên sử dụng phần tử HCT (Hsieh – Clough – Tocher), b{i to|n cận dưới được sử dụng phần tử EM (enhanced Morley).

C|c b{i to|n tấm hình chữ L và tấm chữ nhật được khảo s|t đ~ cho kết quả tốt. Trong b{i b|o n{y c|c tiêu chuẩn von Mises v{ Nielsen được sử dụng, trường moment được xấp xỉ bằng phương ph|p bình phương cực tiểu, c|c định lý cận dưới được sử dụng để th{nh lập b{i to|n tối ưu, phương ph|p không lưới EFG v{ thuật to|n tối ưu hình nón bậc hai cũng được sử dụng. C|c ví dụ số được thực hiện cho tấm hình vuông chịu tải ph}n bố với 4 biên ng{m v{ 4 biên tựa bằng phương ph|p cận dưới đ~ cho kết quả tốt v{ cùng hội tụ về gi| trị được cho bởi lời giải cận trên. Ở Việt Nam cũng có một số công bố về ph}n tích giới hạn được kể đến như: t|c giả Nguyễn Đăng Hưng, Yan Ai-Min, Bùi Công Th{nh trong nghiên cứu “On the Limit and Shakedown Analysis of Plastified and Cracked Structures” Proceedings of The First Vietnam-Japan Symposium in Advances in Applied Electromagnetics and Mechanics HoChiMinh City, Vietnam, January 19- 21,1998; Nguyen An Danh, Bui Cong Thanh, Nguyen Dang Hung, “A recursive approach for limit analysis of frame”, Proceedings of the Sixth National Conference on Solid Mechanics, Hanoi, 11/1999; Le Van Canh, Nguyen Xuan Học viên: Nguyễn Tấn Nhơn Trang 9 Luận văn Thạc sỹ Chương 1.

Giới thiệu Hung, Nguyen Dang Hung. Dual limit analysis of plate bending. Collection of papers from Prof. Nguyen-Dang Hung’s former students, Vietnam National University, Ho Chi Minh City Publishing house, 476 - 494, 2006.

Trong c|c nghiên cứu đ~ được công bố vừa nói trên cho ta thấy việc phân tích giới hạn cho tấm theo lý thuyết Mindlin l{ chưa đầy đủ v{ chưa ho{n chỉnh, cụ thể như sau: Thứ nhất là các kết quả được công bố bởi Capsoni & Corradi (1999), chưa thực sự giải quyết cho b{i to|n tấm Mindlin m{ chỉ sử dụng lý thuyết Mindlin để giải quyết một v{i trường hợp cho tấm mỏng (với hệ số chiều d{y 2a/t=100); Thứ hai l{ c|c nghiên cứu ở trên chưa được thực hiện cho b{i to|n với nhiều điều kiện biên thông dụng khác nhau; Thứ ba trong c|c kết quả được công bố gần đ}y của Lê Văn Cảnh (2009) chỉ mới phân tích giới hạn cho tấm Kircchoff. Vì vậy việc ph|t triển c|c nghiên cứu |p dụng phương ph|p không lưới EFG tính tải giới hạn cho tấm Mindlin cũng như xem xét sự ảnh hưởng của chiều d{y tấm đến gi| trị tải trọng giới hạn l{ cần thiết. Nội dung của luận văn n{y được kế thừa, ph|t triển dựa trên những nghiên cứu v{ công bố của Lê Văn Cảnh.3 Mục tiêu và nhiệm vụ của Luận văn Mục tiêu của đề t{i n{y l{ tính toán gi| trị tải trọng giới hạn cho b{i to|n tấm. Trong đó mô hình vật liệu được sử dụng l{ mô hình vật liệu cứng dẻo lý tưởng (rigid – perfectly plastic), tiêu chuẩn chảy dẻo von Mises, phương pháp số để rời rạc kết cấu l{ phương ph|p không lưới EFG, lý thuyết tấm Mindlin được sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa c|c biến chuyển vị, bài toán tối ưu sẽ được th{nh lập dựa v{o c|c định lý giới hạn cận trên và được đưa Học viên: Nguyễn Tấn Nhơn Trang 10 Luận văn Thạc sỹ Chương 1.

Giới thiệu về dạng tối ưu hình nón bậc hai (second order cone programming) để giải theo chương trình Mosek có sẳn. Để đạt được mục tiêu trên, trong Luận văn n{y tiến h{nh những công việc theo quy trình sau:  Viết công thức rời rạc của b{i to|n ph}n tích giới hạn cận trên cho tấm Mindlin dùng phương ph|p số EFG.  Chuẩn hóa b{i to|n tối ưu ở trên sang dạng tối ưu hình nón bậc hai.  Viết lập trình bằng Matlab để tính tải trọng giới hạn cho các bài toán tấm hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn, hình chữ L với một số điều kiện biên khác nhau.

 So s|nh kết quả số của phương ph|p EFG với kết quả của phương ph|p số kh|c (FEM) để kiểm tra, minh chứng tính chính x|c v{ đ|ng tin cậy của phương ph|p.  So s|nh kết quả lời giải khi cùng sử dụng phương ph|p số EFG ph}n tích giới hạn cho tấm theo 2 lý thuyết Kirchoff v{ Mindlin để đ|nh gi| mức độ phù hợp cũng như phạm vi sử dụng của 2 lý thuyết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề Luận Văn Thạc Sĩ Về Tính Toán Tải Giới Hạn Cho Tấm Mindlin Sử Dụng Phương Pháp Không Lưới của tác giả Nguyễn Tấn Nhơn, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Văn Cảnh và PGS. Chu Quốc Thắng, tập trung vào việc áp dụng phương pháp không lưới để tính toán tải giới hạn cho tấm Mindlin. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp một cái nhìn sâu sắc về các phương pháp phân tích trong xây dựng mà còn giúp cải thiện độ chính xác trong thiết kế kết cấu. Đặc biệt, nó có giá trị cho các kỹ sư và sinh viên ngành xây dựng dân dụng và công nghiệp, giúp họ nắm bắt các kỹ thuật tiên tiến trong tính toán kết cấu.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau:

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực tính toán kết cấu và các ứng dụng thực tiễn trong ngành xây dựng.