Chương 1. TÍNH CHẤT CƠ HỌC CỦA XƯƠNG 1.1 Vai trò và cấu tạo của xương 1.1 Vai trò, chức năng của bộ xương Bộ xương giúp tạo hình và đảm bảo cho hoạt động của cơ thể. Các xương liên kết với nhau tạo thành khung cứng và điểm tựa để nâng toàn bộ cơ thể, giúp cho người có tư thế đứng thẳng. Xương kết hợp với cơ tạo nên hệ đòn bẩy mà điểm tựa là các khớp xương, đảm bảo cho hoạt động của cơ thể.
Sự tăng trưởng về chiều cao và khả năng hoạt động của con người phụ thuộc rất lớn vào khung xương.1 Cấu tạo bộ khung xương của con người [1] Bộ xương có chức năng bảo vệ cho các cơ quan nội tạng. Thật vậy những khoảng trống tạo bởi bộ xương là nơi giữ các cơ quan nội tạng nội tạng: hộp sọ giữ bộ não; xương sống chứa tủy sống; xương sườn tạo thành hộp bảo vệ hai 3 LUẬN VĂN THẠC SỸ Nguyễn Thị Vân Anh cơ quan quan trọng là phổi và tim…Xương là nơi dự trữ các chất mỡ, các muối khoáng, đặc biệt là Canxi và phốt pho và điều hòa các khoáng chất trong cơ thể khi cần thiết. Tủy xương là nơi tạo ra huyết cầu cho cơ thể. Trung bình, có 2,6 triệu tế bào hồng cầu được sản xuất từ tủy xương.2 Phân loại xương a) Phân loại xương theo hình dạng Dựa theo hình dạng, ta có thể phân biệt các loại xương như sau: Xương phẳng (hay xương dẹt): Là các xương có dạng bản phẳng ta có thể tìm thấy các xương này ở hộp sọ, xương bả vai, xương chậu hay xương gót chân.
Xương ức, xương sườn cũng có thể coi là xương phẳng. Các xương này thường có cấu trúc xốp và tương đối nhẹ. Xương đặc Vỏ xương Xương xốp Hình 1.2 Cấu trúc xương phẳng và xương dài Xương ống (hay xương dài): Có cấu trúc dạng ống, khoảng trống ở giữa được lấp đầy bởi tủy bao gồm xương ở các chi trên (xương cánh tay, xương cẳng tay, xương đốt bàn tay) và xương ở các chi dưới (xương đùi, xương cẳng chân, xương mác, xương đốt bàn chân). Xương dài có chức năng hỗ trợ trọng lượng của cơ thể và tạo điều kiện cho việc di chuyển (Hình 1.
Xương ngắn: Thường gặp ở các khớp nối như xương cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân. Chúng có kích thước ngang, dọc, trước, sau gần bằng nhau. 4 LUẬN VĂN THẠC SỸ Nguyễn Thị Vân Anh Xương ngắn gộp lại với nhau có thể chịu được áp lực rất lớn, là nơi chịu trách nhiệm chính cho các vận động phức tạp của cơ thể (Hình 1.3 Xương ngắn ( xương bàn tay bàn chân) và xương có hình dạng bất định (xương sống) Xương có hình dạng bất định: là các xương có hình dạng khá phức tạp, có thể gặp ở xương đốt sống (Hình 1.3) và một số xương trong vùng chậu như pubis, ilium và ischium. Ngoài ra còn có xương vừng và xương có hốc khí: Các xương vừng là những cấu trúc xương nhỏ, tròn bám vào các gân gấp của bàn chân và thường ở vị trí rất gần so với khớp.
Xương giúp giảm ma sát và áp lực của gân gấp khi gân qua đoạn gần khớp. Xương có hốc khí có chứa không khí bên trong như xương trán, xương hàm, thân xương bướm b) Phân loại xương theo thành phần cấu tạo Xương đặc: Chiếm 70% khối lượng xương của cơ thể, có cấu trúc rắn chắc, và khối lượng riêng lớn. Xương đặc là loại xương chủ yếu cấu tạo nên thân của xương dài. Xương xốp: Thường gặp ở các đầu các xương ống, các xương ngắn và xương dẹt.
Ở các xương dài cũng có một lớp mỏng xương xốp nằm ở phần trong của ống xương, tiếp giáp với tủy sống. Xương xốp có cấu tạo gồm các lá xương đan chéo vào nhau tạo ra nhiều hốc lớn, thông nhau và chứa đầy tủy sống. 5 LUẬN VĂN THẠC SỸ Nguyễn Thị Vân Anh 1.3 Cấu trúc vi mô của xương Ở thang nano mét, xương được hợp thành bởi các phân tử collagen được xắp xếp thành các sợi nhỏ. Các sợi nhỏ này lại được xếp lại tạo thành các sợi xơ.
Các tinh thể khoáng xương được sắp hàng xen kẽ với các sợi xơ và các sợi sơ đã khoáng hóa này xắp xếp thành phiến xương có độ dày đặc trưng khoảng vài micro mét. Định hướng của các sợi xơ phụ thuộc vào các phiến xương và có thể thay đổi trong các lớp phụ của phiến.4 Cấu trúc vi mô của xương [2] Cách tổ chức này giống như kiểu cấu trúc gỗ dán xoắn. Một osteon tương đương một cấu trúc hình trụ với đường kính 100‐300 micrometters bao gồm một số lá xương xắp xếp quanh kênh Haversian chứa các mạch máu và dây thần kinh. Một osteon còn được gọi là một cấu trúc đơn vị (BSU) của xương.
Tại vùng ngoại vi của mỗi osteon, giữa khoảng cách của các osteons với osteons liền kề hoặc mô kẽ, có dòng chảy của chất khoáng, rất giàu proteoglycan. Trong xương xốp, mỗi bản xương có độ dày dao động quanh 100 micrometters được tạo thành từ các sợi xương sắp xếp song song. 6 LUẬN VĂN THẠC SỸ Nguyễn Thị Vân Anh 1.2 Các đại lượng cơ học đặc trưng cho xương 1.1 Độ cứng và giới hạn chịu lực Tác dụng một lực vào mặt cắt của xương sao cho hướng của lực song song với trục xương, ta thấy độ biến thiên của chiều dài xương phụ thuộc vào lực tác dụng theo dạng đồ thị sau ( hình 1.5 Sự phụ thuộc chiều dài của xương vào lực tác dụng lên xương Hệ số góc của phần tuyến tính trên đồ thị là độ cứng của xương. Độ cứng phản ánh khả năng chịu tác dụng lực của xương, có độ lớn phụ thuộc nhiều vào cấu trúc hình học của xương.
Độ cứng được tính bởi: , ở đó F là độ lớn lực tác dụng lên xương (tính bằng N), và ∆l là độ biến dạng của xương (tính bằng mm). Giới hạn chịu lực của xương được định nghĩa là lực tối đa mà xương chịu được mà không bị gãy, hỏng, được xác định bằng giá trị của lực tại điểm cực trị của đường cong trên. Các xương khác nhau có giới hạn chịu lực khác nhau. Giá trị của độ cứng và giới hạn chịu lực của một số xương trong cơ thể người được thể hiện dưới Bảng 1.
7 LUẬN VĂN THẠC SỸ Nguyễn Thị Vân Anh Loại xương Độ cứng (N/m) Giới hạn chịu lực (N) Xương đùi Ép đứng 5568(1597),{4937- 16948},9039(3412)a Ép bên 4000{1100-8700},2586(1146)a Cột sống Nén {2602-5802} Uốn trước 3109(1234) 630-2907},2098(815) Xương quay Nén 12946(3644) Bảng 1.1 Độ cứng và giới hạn chịu lực của một số loại xương[2] 1.2 Ứng suất, sức căng và độ đàn hồi Ứng suất là lực tác dụng lên một đơn vị diện tích (A), được xác định bởi công thức: ¾ = F=A Sức căng được tính bằng tỷ lệ giữa độ biến dạng (∆l) và chiều dài ban đầu (lo) của xương: l / l0 .3 Suất đàn hồi thể tích và hệ số Poisson Suất đàn hồi thể tích đo lường khả năng chịu nén của khối vật chất theo P tất cả các hướng, xác định bởi V. Ở đó, P là áp suất và V là thể tích V của mẫu. Khi chịu lực, xương có khả năng bị biến dạng theo cả hai hướng dọc theo và vuông góc với phương của lực tác dụng. Hệ số Poisson được định nghĩa là 8 LUẬN VĂN THẠC SỸ Nguyễn Thị Vân Anh tỉ số giữa sức căng theo phương vuông góc với phương tác dụng lực và sức căng song song với phương truyền lực: ( lOT / lOT ) T (lT / lT ) L Hệ số nén khối K quan hệ với suất Young (E) và hệ số Poisson ( ) bởi công thức sau: E K (1 2 ) 1.4 Tính dị hướng Tính chất cơ học của xương là khác nhau theo các hướng khác nhau, bởi vậy xương có tính dị hướng.
Có một số yếu tố tạo nên tính dị hướng cơ học của xương, bao gồm định hướng của BSU và mạng lưới xốp Havers, định hướng của lamellae và sự liên kết của các sợi collagen và tinh thể hydroxyapatite. Thường người ta coi xương có tính dị hướng trực giao, tức là tính chất xương biến thiên dọc theo trục vuông góc với trục xương.5 Độ xốp Độ xốp được định nghĩa là tỉ số phần thể tích rỗng trên tổng thể tích xương V Vr / V. Độ xốp là khác nhau cho từng loại xương. Xương đặc có độ xốp rất thấp cỡ 2-3% trong khi xương xốp có độ xốp cỡ 70-80%.
Ngoài ra độ xốp còn phu thuộc vào độ tuổi và bệnh lý của xương. Ví dụ: xương người già có độ xốp lớn hơn xương của người trẻ; xương của người bị loãng xương có độ xốp lớn hơn xương người khỏe mạnh.3 Các bệnh về xương 1.1 Loãng xương Loãng xương (còn được gọi xốp xương hay thưa xương) là một bệnh lý của hệ thống xương, đặc trưng bởi sự giảm tỷ trọng khoáng chất của xương (Bone Mineral Density‐BMD) hay giảm trọng lượng của một đơn vị thể tích xương (Bone Mass Content – BMC), đồng thời với sự giảm bề dày lớp vỏ xương. Loãng xương thường xảy ra âm thầm, các triệu chứng lâm sàng không 9 LUẬN VĂN THẠC SỸ Nguyễn Thị Vân Anh thể hiện các một cách tức thời và rõ ràng. Loãng xương khiến cho sức chống đỡ và chịu lực của xương giảm đi, xương sẽ trở nên mỏng mảnh, dễ gãy, dễ lún và dễ xẹp, đặc biệt ở các vị trí chịu lực của cơ thể như: cột sống, cổ xương đùi, đầu dưới xương quay, xương dần trở nên mỏng mảnh, yếu và dễ gãy khi bị chấn thương dù rất nhẹ, thậm chí không rõ chấn thương.
Loãng xương do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, bao gồm: kém phát triển thể chất từ khi còn nhỏ, còi xương, suy dinh dưỡng; có tiền sử gia đình cha, mẹ bị loãng xương hoặc gãy xương; ít hoạt động thể lực, ít hoạt động ngoài trời, bất động quá lâu ngày do bệnh tật hoặc do nghề nghiệp; có thói quen sử dụng nhiều rượu, bia, cà phê, thuốc lá; bị mắc một số bệnh hoặc đang sử dụng dài hạn một số thuốc có tác dụng phụ gây ảnh hướng đến sức khỏe của xương.2 Gãy xương Gãy xương là tình trạng tổ chức xương bị phá hủy do tác động cơ học, có thể là một vết nứt nhỏ trên thân xương hay tình trạng xương bị phá hủy hoàn toàn. Nguy cơ bị gãy xương phụ thuộc một phần vào lứa tuổi. Xương gãy khá phổ biến ở trẻ nhỏ, tuy nhiên gãy xương ở trẻ em thường ít phức tạp hơn gãy xương ở người lớn. Người lớn tuổi có xương giòn hơn dẫn đến nguy cơ gãy xương do té ngã.
Người bị loãng xương cũng có nguy cơ gãy xương cao hơn người khỏe mạnh.