Chương 1 “Tổng quan tài liệu”, trình bày sự ra đời và vai trò của vật liệu hai chiều, bằng chứng thực nghiệm và các kết quả mô phỏng sự tồn tại của màng sắt một lớp nguyên tử. Chương 2 “Phương pháp nghiên cứu”, giới thiệu về phương pháp MD, thế tương tác và các kỹ thuật tính toán của mô hình. Chương 3 “Kết quả và thảo luận”, trình bày các kết quả về quá trình chuyển pha, các tính chất liên quan đến cấu trúc trong quá trình làm lạnh và cơ chế nguyên tử trong quá trình đông đặc. Chương 4 “Kết luận và hướng phát triển của đề tài”, chương này trình bày về các kết luận thu được và hướng phát triển của đề tài.
Thông qua việc tính toán và phân tích các đại lượng, đề tài đã thu được một số kết quả nổi bật. Nhiệt độ nóng chảy của ironene tinh thể trong không gian 2D được xác định vào khoảng 2640 K. Sau quá trình làm lạnh, đề tài thu được màng sắt phẳng hai chiều có cấu trúc lưới tam giác với hằng số mạng là 2,455 Å, chứa khuyết tật mất nguyên tử (vacancy). Dựa trên các kết quả thu được từ đề tài, học viên dưới sự hướng dẫn của GS.
Võ Văn Hoàng, đã tiến hành phân tích chi tiết hơn và đã có hai báo cáo tham gia hội nghị: - V. Hoàng, “Mô phỏng quá trình hình thành màng sắt đơn lớp 2D từ trạng thái lỏng”, đã tham gia Hội nghị Khoa học và Công nghệ lần thứ 14 tại Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh (30/10/2015). Hằng, “Ironene – Vật liệu 2D mới”, đã tham gia Hội nghị quốc tế lần thứ 5 về Công nghệ nano và ứng dụng tại thành phố Vũng Tàu (11-14/11/2015). TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về vật liệu hai chiều Vật liệu khối ba chiều (3D) đã có nhiều ứng dụng thực tế. Vấn đề đặt ra ở đây là có hay không sự tồn tại của vật liệu hai chiều (2D) và chúng có ứng dụng như thế nào trong thực tế? Điều này đã dẫn đến các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về vật liệu 2D vô cùng thú vị từ những năm 30 của thế kỷ 20. Hai nhà vật lý nổi tiếng Peierls và Landau với những nghiên cứu của họ [1,2] đã cho rằng việc tồn tại vật liệu 2D mâu thuẫn với lý thuyết bền vững về mặt nhiệt động lực học. Các nguyên tử trong mạng 2D khi dao động nhiệt sẽ gây ra sự tan chảy mạng tinh thể khiến cho sự tồn tại của vật liệu 2D là bất khả thi và việc tìm kiếm là vô vọng.
Kết quả thực nghiệm [3] cũng chứng minh được độ bền vững nhiệt động học của màng mỏng giảm dần theo sự giảm bề dày của màng vật liệu 2D. Khi màng đạt đến độ dày tương ứng với vài chục lớp nguyên tử thì vật liệu 2D sẽ suy thoái và co cụm lại thành vật liệu 3D. Như vậy, bằng lý thuyết và thực nghiệm lúc bấy giờ đều đưa đến kết luận thống nhất là vật liệu 2D không thể tồn tại. Năm 2004, sự thành công của nhóm nhà khoa học Novoselov và các cộng sự [4] trong việc chế tạo vật liệu 2D graphene đã thật sự làm thay đổi những giả thuyết trong vật lý lý thuyết trước đây.
Tuy nhiên, việc khám phá ra graphene của Novoselov và các cộng sự không bác bỏ những nghiên cứu của Peierls và Landau. Lý thuyết không chấp nhận màng 2D tồn tại trên một mặt phẳng tuyệt đối, tức là chiều cao của mặt phẳng bằng không, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc màng 2D tựa trên nền là vật liệu khối 3D hay tự thân hiện hữu trong không gian 3D là không thể tồn tại. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan sát của Novoselov và các cộng sự [5]. Quá trình nghiên cứu graphene không những được chú ý đến trong khoảng thời gian gần đây mà còn được nghiên cứu từ thế kỷ trước.
Lịch sử nghiên cứu vật liệu đã ghi nhận không ít nỗ lực để tìm ra vật liệu 2D đầu tiên với bề dày một lớp nguyên tử. Năm 1859, khi cho graphite vào axit mạnh, nhà hóa học Benjamin Brodie [6] quan sát được một dạng vật liệu mà ông gọi là “graphon”. Kỹ thuật ngày nay đã 4 khẳng định “graphon” chính là graphene oxit được cấu tạo từ các tinh thể nhỏ graphene có mật độ cao được bao phủ bởi nhóm hydroxyl và epoxide [7]. Trên lĩnh vực lý thuyết, Phil Wallace dựa trên nghiên cứu về cấu trúc dải của graphene [8] đã đề cập đến sự tồn tại của vật liệu 2D này vào năm 1947.
Lý thuyết này dường như bị lãng quên đến khi graphene thực sự ra đời bằng thực nghiệm thì nó nhanh chóng đóng vai trò soi đường cho các nghiên cứu sau này. Vogt sử dụng kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) quan sát mẫu sau khi làm khô một giọt graphene oxide, kết quả cho thấy một số mảnh có độ dày vài nanomet [9]. Năm 1962, Ulrich Hofmann và Hanns-Peter Boehm đã cố gắng tìm kiếm những mảnh vỡ mỏng nhất có thể có của các mảnh graphene oxide và xác định một số trong số chúng gần như có cấu trúc đơn lớp [10]. Sự thành công của Novoselov và các cộng sự trong việc chế tạo graphene có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả lý thuyết và ứng dụng.
Về mặt lý thuyết, graphene đã làm thay đổi những quan điểm trước đó về việc có hay không tồn tại vật liệu 2D. Về mặt ứng dụng, graphene được xem là một ứng cử viên vô cùng sáng giá cho các ứng dụng trong vi điện tử, pin năng lượng mặt trời, các thiết bị quang điện tử,… Sau sự thành công đầy hứa hẹn của graphene, các nghiên cứu thực nghiệm về vật liệu 2D lại thu hút sự quan tâm to lớn như hBN, MoS2, MoSe2 [11,12], silicene [13,14]. Tương tự như graphene, silicene đã được tiên đoán sự tồn tại của nó trên lý thuyết từ khá lâu [13] nhưng những bằng chứng thực nghiệm của vật liệu này mới xuất hiện gần đây [15-23]. Tuy xuất hiện trễ hơn graphene nhưng silicene có khả năng là vật liệu bán dẫn nên cũng hứa hẹn có những đóng góp to lớn trong ngành công nghiệp bán dẫn và điện tử [15-18].
Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm và mô phỏng của màng sắt hai chiều 1. Nghiên cứu thực nghiệm của màng sắt hai chiều Các vật liệu 2D xuất hiện ngày càng nhiều trong thực tế đã khuyến khích các nhà khoa học đặt ra một vấn đề nữa là liệu rằng các vật liệu 2D có tính chất từ, mà đại diện là sắt có thể tồn tại hay không. Vật liệu từ 2D nếu tồn tại sẽ đóng vai trò quan 5 trọng trong các thiết bị lưu trữ đặc trưng bởi mật độ lưu trữ cao và kích thước được thu nhỏ tối đa [24]. Sự quan tâm của cộng đồng khoa học với vật liệu từ 2D trên lý thuyết và thực nghiệm thật ra không mới và đã bắt đầu từ sự khám phá ra khả năng tăng cường moment từ của vật liệu bằng cách giảm số phối vị của nguyên tử [25,26].
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cụm sắt từ một lớp nguyên tử có moment từ trên mỗi nguyên tử lớn hơn nhiều lần so với vật liệu từ 3D [24,27]. Tuy vậy, liên kết kim loại và cấu trúc 3D khiến kim loại không thể tồn tại ở dạng một lớp nguyên tử. Trước đây đã có một số báo cáo của màng mỏng sắt như spin của sắt trên nền là tinh thể Cu (100) [28] hay tính chất cơ học trên tinh thể MgO (001) [29]. Tuy nhiên, các kết quả trên thu được đối với màng sắt đa lớp gồm nhiều đơn lớp sắt.
Ngoài ra, các màng sắt đa lớp này tương tác với nền, ảnh hưởng đến các đại lượng như moment từ của màng sắt. Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm hiện nay tập trung vào việc hình thành màng sắt một lớp nguyên tử trên vật liệu 2D khác ví dụ như graphene [30-32] hay cụm nguyên tử sắt trên graphene [33]. Trong đó, phải kể đến kết quả của Jiong Zhao và các cộng sự [34] đã lần đầu tiên tạo thành công màng sắt đơn lớp và đồng thời gần như mở ra phương pháp mới để chế tạo màng sắt đơn lớp hai chiều. Trong thí nghiệm của Jiong Zhao và các cộng sự, màng sắt đơn lớp được tạo ra như sau: đầu tiên, màng graphene được tạo ra trước bằng phương pháp CVD (chemical vapor deposition) trên nền Ni/Mo [35].
Màng graphene đơn lớp được đưa lên lưới carbon sau khi sử dụng dung môi FeCl3 để tách màng graphene khỏi nền Ni/Mo [36]. Sau quá trình chuyển, các nguyên tử sắt còn sót lại từ dung môi FeCl3 tạo thành tinh thể sắt có kích thước nano trên bề mặt của graphene như BCC (Body Centered Cubic), HCP (hexagonal close-packed) và màng sắt đơn lớp dưới chiếu xạ điện tử của kính hiển vi điện tử truyền qua quang cầu sai được điều chỉnh ở điện thế thấp (LVACTEM).1 biểu diễn màng graphene và các cấu trúc tinh thể sắt hình thành trên màng graphene. Hình chụp màng sắt đơn lớp hai chiều bằng kính hiển vi điện tử truyền qua cường độ lớn. (A) cho thấy cấu trúc của màng sắt đơn lớp hai chiều bằng thực nghiệm.
(B, D) hình chụp sau khi xử lý bằng FFT để lọc nhiễu. (C, E, F) biểu diễn màng sắt và hằng số mạng theo mô phỏng và thực nghiệm. cho ta thấy rõ hơn màng sắt đơn lớp hai chiều bằng kính hiển vi điện tử truyền qua cường độ lớn. Kết quả cho thấy, màng sắt đơn lớp hai chiều có dạng lưới ô vuông với hằng số mạng là 2,65 ± 0,05 Å theo thực nghiệm.
Jiong Zhao và các cộng sự cũng đã tiến hành tính toán DFT (density functional theory) dựa trên xấp xỉ gradient tổng quát (GGA) với hàm Perdew-Burke-Ernzerhof [37]. Tính toán chỉ ra rằng, hằng số mạng bền vững nhất cho lưới ô vuông của màng sắt đơn lớp là xấp xỉ 2,35 Å. Tuy nhiên, tính toán năng lượng cho hai kết quả này lệch nhau không lớn (0,2 eV trên mỗi nguyên tử) nên có thể chấp nhận được. Sở dĩ có sự sai khác này do trong tính toán mô phỏng ta đã bỏ qua một vài yếu tố ảnh hưởng như: spin quỹ đạo hay các tính chất cơ học giữa graphene và màng sắt đơn lớp hai chiều.
Màng sắt dạng lưới tam giác (a-d) [38] 8 Bằng khảo sát thực nghiệm cũng như sử dụng bức xạ điện tử, Wei Yang và Hongtao Wang phát hiện ra màng sắt đơn lớp còn tồn tại dưới dạng lưới tam giác [38] bền vững hơn lưới ô vuông trong thí nghiệm của Jiong Zhao và các cộng sự. cho thấy màng sắt dưới dạng lưới tam giác trên nền graphene. biểu diễn các dạng liên kết giữa màng sắt và biên graphene thu được bằng mô phỏng và thực nghiệm.