Tổng quan nghiên cứu

Trong xu hướng phát triển công trình nhà cao tầng từ đầu thế kỷ XXI, các giải pháp kiến trúc biểu tượng ngày càng đòi hỏi những cấu kiện kết cấu có quy mô và độ phức tạp cao, đặc biệt là hệ thống dầm chuyển nhịp lớn nhằm thay đổi bước cột giữa các tầng khối đế và tháp. Theo tiêu chuẩn TCXDVN 305:2004, các cấu kiện có kích thước cạnh và chiều cao vượt quá 2,0 m khi thi công với bê tông cường độ cao đều thuộc nhóm bê tông khối lớn, đối mặt trực tiếp với nguy cơ nứt do ứng suất nhiệt phát sinh từ quá trình thủy hóa xi măng. Khi mức chênh lệch nhiệt độ giữa tâm khối đổ và bề mặt vượt quá ngưỡng 20°C, ứng suất kéo sinh ra sẽ vượt giới hạn kéo của bê tông tuổi sớm, dẫn đến các vết nứt xuyên suốt làm suy giảm nghiêm trọng độ bền lâu của công trình.

Thực tế thi công cấu kiện dầm chuyển tại các vị trí trên cao ở những khu vực ven biển chịu ảnh hưởng khắc nghiệt từ bức xạ mặt trời, gió biển và biến động nhiệt độ ngày đêm từ 25°C đến 38°C. Bên cạnh đó, việc sử dụng cấp phối bê tông cường độ cao C40/50 đòi hỏi lượng xi măng lớn, làm gia tăng tốc độ sinh nhiệt nhanh chóng trong 48 giờ đầu sau khi đổ. Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc ứng dụng phương pháp động lực học chất lưu tính toán (CFD) trên nền tảng phần mềm ANSYS Fluent để mô phỏng chính xác trường nhiệt độ và quá trình trao đổi nhiệt đối lưu của hệ thống ống làm mát (cooling pipe) bên trong dầm chuyển.

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu quan trắc thực tế tại dự án Đà Nẵng Times Square, Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng vào tháng 06/2019 và hoàn thiện tính toán vào năm 2022. Giá trị thực tiễn của công trình thể hiện qua việc kiểm soát độ chênh lệch nhiệt độ trong khối dầm luôn duy trì dưới 20°C, giảm thiểu sai số dự báo nhiệt độ mô phỏng so với thực nghiệm xuống mức dưới 10%, giúp các nhà thầu tối ưu hóa thiết kế đường ống giải nhiệt và tiết kiệm hàng trăm triệu đồng chi phí đúc mẫu thử nghiệm quy mô lớn tại hiện trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết truyền nhiệt vi phân ba chiều và cơ học chất lưu tính toán. Cơ sở truyền nhiệt trong môi trường vật rắn dựa trên định luật Fourier tổng quát kết hợp phương trình cân bằng năng lượng vi phân ba chiều trong hệ tọa độ Descartes. Phương trình vi phân chủ đạo mô tả sự biến thiên của trường nhiệt độ theo thời gian và không gian dưới tác dụng của nguồn nhiệt nội sinh từ quá trình thủy hóa xi măng. Quá trình phát sinh nhiệt đoạn nhiệt của bê tông được xác định theo mô hình toán học hàm số mũ của Tanabe (1985) đã được Hiệp hội Kỹ sư Xây dựng Hoa Kỳ (ASCE) công nhận vào năm 1986.

Hệ thống ống làm mát sử dụng môi chất nước tuần hoàn được mô hình hóa bằng hệ phương trình Navier-Stokes trung bình hóa Reynolds (RANS) cho dòng chảy rối ba chiều không nén được. Mô hình rối hai phương trình SST k-omega và Realizable k-epsilon được áp dụng để mô tả chính xác lớp biên nhiệt và thủy động lực học sát bề mặt thành ống. Các khái niệm cốt lõi bao gồm: nhiệt dung riêng của bê tông biến thiên giảm từ 5% đến 13% trong quá trình đóng rắn; hệ số dẫn nhiệt của bê tông giảm tới 21% theo tiến trình thủy hóa theo mô hình Schindler; và mức độ thủy hóa chuẩn hóa từ 0 đến 1. Lượng nhiệt tỏa ra của xi măng Poocland thông thường Type I dao động từ 330 đến 370 kJ/kg sau 7 ngày, trong khi xi măng tỏa nhiệt thấp Type IV chỉ sinh nhiệt khoảng 250 kJ/kg theo chuẩn ASTM C150.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập trực tiếp từ công trình xây dựng tháp đôi Đà Nẵng Times Square. Cỡ mẫu nghiên cứu là một phân đoạn dầm chuyển bê tông cốt thép khối lớn có kích thước mặt cắt ngang 2,5 m x 2,5 m sử dụng cấp phối bê tông C40/50. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu điển hình có chủ đích tại phân đoạn dầm chuyển có mật độ cốt thép dày đặc và vị trí chịu tải trọng tập trung lớn nhất của tòa tháp. Tại đây, hệ thống quan trắc được bố trí gồm 8 vị trí đo đại diện; mỗi vị trí được gắn 3 đầu cảm biến nhiệt loại K tại các cao độ bề mặt trên, tâm giữa và đáy dầm, tạo thành 24 điểm khảo sát nhiệt độ độc lập được kết nối với máy ghi dữ liệu tự động 12 kênh BTM-4208SD.

Phương pháp phân tích số sử dụng kỹ thuật thể tích hữu hạn (FVM) với thuật toán SIMPLE để giải đồng thời bài toán truyền nhiệt liên hợp giữa khối bê tông và chất lỏng trong đường ống. Lý do lựa chọn phương pháp CFD ba chiều trên ANSYS Fluent là vì các công thức giải tích đơn giản hóa hoặc mô hình 1D và 2D truyền thống không thể phản ánh được bản chất phân bố nhiệt bất đối xứng khi có sự hiện diện của mạng lưới ống giải nhiệt phức tạp uốn lượn và sự biến thiên liên tục của nhiệt độ nước dọc theo chiều dài đường ống. Toàn bộ timeline nghiên cứu được tiến hành bài bản: thu thập số liệu hiện trường trong 98 giờ dưỡng hộ đầu tiên, xây dựng hình học và chia lưới chất lượng cao với chỉ số Y+ phù hợp lớp biên, thiết lập điều kiện biên đối lưu môi trường theo dữ liệu khí tượng thực tế và phân tích kết quả trong giai đoạn từ tháng 09/2021 đến tháng 06/2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô phỏng số và dữ liệu quan trắc thực nghiệm tại công trình dầm chuyển đã chỉ ra bốn phát hiện kỹ thuật mang tính then chốt:

Thứ nhất, quá trình tăng nhiệt của bê tông khối lớn dầm chuyển diễn ra rất nhanh và đạt đỉnh trong giai đoạn từ 36 đến 42 giờ sau khi kết thúc công tác đổ bê tông. Nhiệt độ cực đại tại tâm khối bê tông ghi nhận ở mức 68,5°C trên mô phỏng và 70,2°C trên thực tế đo đạc, sau đó giảm dần với tốc độ trung bình từ 0,3°C đến 0,5°C mỗi giờ cho đến mốc 98 giờ.

Thứ hai, hệ thống ống giải nhiệt bằng nước tuần hoàn phát huy hiệu quả tản nhiệt cưỡng bức vượt trội. Tại các vùng bê tông nằm trong bán kính cách thành ống thép từ 15 cm đến 30 cm, nhiệt độ đo được luôn thấp hơn vùng tâm khối từ 5,2°C đến 7,8°C, tương đương mức giảm nhiệt độ cục bộ khoảng 8% đến 11%.

Thứ ba, sự chênh lệch nhiệt độ lớn nhất giữa điểm tâm khối và điểm bề mặt ngoài cùng của dầm chuyển được kiểm soát ở mức dao động từ 14,3°C đến 18,6°C trong suốt 98 giờ theo dõi. Giá trị này hoàn toàn nằm trong giới hạn an toàn 20°C theo quy định của tiêu chuẩn TCXDVN 305:2004 và chỉ dẫn JCI 2016, đảm bảo không xuất hiện vết nứt nhiệt trên bề mặt cấu kiện sau khi tháo dỡ cốp pha.

Thứ tư, mô hình mô phỏng CFD cho thấy độ tương đồng rất cao với dữ liệu thực nghiệm. Sai số tương đối về nhiệt độ giữa mô phỏng và đo đạc thực tế tại 8 vị trí cảm biến chỉ nằm trong khoảng từ 3,1% đến 9,8%, với độ lệch nhiệt độ tuyệt đối trung bình không vượt quá 2,2°C.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ mạnh mẽ trong dầm chuyển là do việc sử dụng bê tông cường độ cao C40/50 với hàm lượng xi măng lớn nhằm đáp ứng yêu cầu chịu lực sớm của tiến độ thi công nhà cao tầng. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua hệ thống biểu đồ đường biểu diễn lịch sử phát triển nhiệt độ theo thời gian tại 3 lớp mặt - giữa - đáy, kết hợp cùng bảng thống kê so sánh nhiệt độ nước cấp đầu vào và nước hồi đầu ra của hệ thống ống làm mát. Dữ liệu cho thấy nhiệt độ nước làm mát sau khi đi qua khối bê tông đã tăng thêm từ 2,4°C đến 4,1°C, chứng minh lượng nhiệt hydrat hóa được dòng nước hấp thụ và vận chuyển ra môi trường bên ngoài là rất lớn.

Khi so sánh với các nghiên cứu của Piyush Raj Singh (2020) về mô phỏng 3D hệ thống làm mát có sai số dưới 5°C, hay kết quả của Yonghui Huang (2021) với dải sai số từ 3% đến 12%, kết quả của luận văn này đạt độ tin cậy vượt trội nhờ việc thiết lập chính xác các điều kiện biên đối lưu nhiệt với môi trường bên ngoài và đặc tính nhiệt vật lý phi tuyến của vật liệu. Một số sai số nhỏ giữa mô phỏng và thực tế chủ yếu bắt nguồn từ sự dao động không đều của lưu lượng bơm nước tại hiện trường và sự thay đổi đột ngột của tốc độ gió ven biển ngoài dự báo. Những kết quả này khẳng định phương pháp mô phỏng CFD là công cụ tin cậy để dự báo trường nhiệt và kiểm soát rủi ro nứt kết cấu dầm chuyển.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm, bốn giải pháp kỹ thuật cụ thể được đề xuất nhằm tối ưu hóa công tác kiểm soát nhiệt độ bê tông dầm chuyển khối lớn:

Thứ nhất, tối ưu hóa cấp phối bê tông tỏa nhiệt thấp. Đơn vị sản xuất bê tông thương phẩm và nhà thầu chính cần chủ động thay thế từ 20% đến 30% khối lượng xi măng Poocland thông thường bằng phụ gia khoáng hoạt tính như tro bay loại F hoặc xỉ lò cao nghiền mịn. Giải pháp này giúp hạ thấp nhiệt độ đoạn nhiệt cuối cùng của khối bê tông từ 3,5°C đến 5,0°C mà vẫn đảm bảo cường độ chịu nén ở tuổi 28 ngày đạt mác C40/50. Thời gian hoàn thành thử nghiệm cấp phối cần thực hiện trước ngày đổ bê tông tối thiểu 21 ngày.

Thứ hai, chuẩn hóa thiết kế mạng lưới ống giải nhiệt cooling pipe. Các kỹ sư thiết kế biện pháp thi công cần bố trí hệ thống ống thép mạ kẽm có đường kính danh định từ D27 đến D34 mm với khoảng cách tim ống theo phương ngang và phương đứng dao động từ 0,8 m đến 1,0 m. Mạng lưới ống phải được cố định vững chắc vào khung cốt thép chịu lực và hoàn thành lắp đặt, thử áp lực nước ở mức 4 bar trước khi nghiệm thu đổ bê tông 24 giờ.

Thứ ba, vận hành hệ thống bơm tuần hoàn làm mát chủ động. Ban chỉ huy công trường chịu trách nhiệm duy trì liên tục lưu lượng nước chảy trong mỗi nhánh ống ở mức từ 18 đến 25 lít/phút, khống chế nhiệt độ nước cấp đầu vào không vượt quá 28°C. Quá trình bơm nước làm mát phải được kích hoạt ngay sau khi kết thúc đổ bê tông 2 giờ và duy trì vận hành liên tục không gián đoạn trong tối thiểu 96 giờ đầu tiên.

Thứ tư, thực hiện quy trình bảo ôn bề mặt và quan trắc nhiệt độ thông minh. Đội ngũ kỹ sư quản lý chất lượng QA/QC phải tiến hành phủ bạt giữ ẩm kết hợp trải lớp xốp cách nhiệt XPS có độ dày từ 25 mm đến 30 mm trên toàn bộ bề mặt hở của dầm chuyển ngay sau khi xoa mặt. Đồng thời, lắp đặt hệ thống cảm biến nhiệt độ tự động truyền dữ liệu với tần suất ghi nhận 60 phút một lần nhằm duy trì độ chênh lệch nhiệt độ mặt - tâm luôn dưới 20°C trong suốt chu kỳ 7 ngày dưỡng hộ đầu tiên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn trong ngành xây dựng:

Kỹ sư thiết kế kết cấu và chuyên gia lập biện pháp thi công: Tài liệu cung cấp quy trình chi tiết từng bước để thiết lập mô hình mô phỏng CFD 3D trên ANSYS Fluent. Nhờ đó, người thiết kế có thể dễ dàng tính toán chính xác mật độ bố trí đường ống giải nhiệt, đường kính ống và lưu lượng nước làm mát phù hợp cho các cấu kiện dầm chuyển, sàn chuyển hoặc móng bè có chiều dày lớn hơn 2,0 m.

Chỉ huy trưởng công trình và kỹ sư giám sát hiện trường: Luận văn là cẩm nang thực tế hướng dẫn phương pháp bố trí mạng lưới cảm biến nhiệt loại K, cách thức kết nối máy ghi dữ liệu tự động 12 kênh và quy trình xử lý tình huống khẩn cấp khi độ chênh lệch nhiệt độ giữa tâm và bề mặt tiến sát ngưỡng cảnh báo 20°C.

Các nhà sản xuất và cung ứng bê tông thương phẩm: Doanh nghiệp bê tông có thêm cơ sở khoa học để nghiên cứu phát triển các dòng sản phẩm bê tông ít tỏa nhiệt mác cao C40/50, tính toán tối ưu tỷ lệ hạt và hàm lượng phụ gia khoáng nhằm giảm tốc độ phát sinh nhiệt thủy hóa trong 48 giờ đầu.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng: Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp kết hợp lý thuyết truyền nhiệt phi tuyến, cơ học thủy khí tính toán RANS và dữ liệu quan trắc thực tế, mở rộng hướng nghiên cứu ứng dụng mô phỏng số trong công nghệ xây dựng hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cấu kiện dầm chuyển nhà cao tầng lại có nguy cơ nứt nhiệt cao hơn kết cấu móng khối lớn? Dầm chuyển nằm ở trên cao nên chịu tác động trực tiếp từ gió mạnh và bức xạ mặt trời, làm tăng tốc độ mất nhiệt ở bề mặt ngoài. Đồng thời, yêu cầu chịu lực phức tạp buộc dầm chuyển phải dùng bê tông mác cao C40/50 tỏa nhiệt lớn, khiến độ chênh lệch nhiệt độ giữa tâm và mặt dễ vượt ngưỡng 20°C gây nứt.

Hệ thống ống làm mát cooling pipe giúp giảm bao nhiêu độ C cho khối bê tông dầm chuyển? Dữ liệu quan trắc thực tế tại dự án Đà Nẵng Times Square cho thấy hệ thống ống làm mát giúp giảm nhiệt độ đỉnh tại tâm khối từ 5°C đến 8°C và duy trì độ chênh lệch nhiệt độ tổng thể luôn ở mức an toàn từ 14°C đến 18°C trong 96 giờ dưỡng hộ.

Tiêu chuẩn hiện hành nào quy định ngưỡng kiểm soát nhiệt độ đối với bê tông khối lớn tại Việt Nam? Tiêu chuẩn TCXDVN 305:2004 và tiêu chuẩn quốc tế JCI 2016 quy định cấu kiện có kích thước cạnh vượt quá 2,0 m phải kiểm soát độ chênh lệch nhiệt độ giữa tâm khối đổ và bề mặt ngoài không được vượt quá 20°C để phòng ngừa nứt do ứng suất nhiệt.

Phương pháp mô phỏng phần tử hữu hạn CFD bằng ANSYS Fluent có độ chính xác như thế nào so với thực tế? Mô hình mô phỏng CFD ba chiều đạt độ tin cậy rất cao, với sai số tương đối so với dữ liệu đo thực tế tại 8 cụm cảm biến chỉ dao động từ 3,1% đến 9,8%, độ lệch nhiệt độ tuyệt đối trung bình chỉ từ 1°C đến 2,2°C.

Việc thay thế một phần xi măng bằng tro bay có làm chậm tiến độ thi công dầm chuyển không? Việc thay thế từ 20% đến 30% tro bay loại F giúp giảm từ 3°C đến 5°C nhiệt độ thủy hóa mà vẫn đảm bảo cường độ bê tông đạt yêu cầu thiết kế C40/50 ở ngày thứ 28, đáp ứng hoàn toàn tiến độ tháo dỡ cốp pha chịu lực theo quy định.

Kết luận

• Luận văn đã xây dựng thành công quy trình mô phỏng số 3D liên hợp nhiệt - thủy động lực học (CFD) bằng phần mềm ANSYS Fluent để phân tích sự phân bố nhiệt độ trong dầm chuyển bê tông khối lớn. • Kết quả kiểm chứng với dữ liệu thực tế tại dự án Đà Nẵng Times Square khẳng định độ tin cậy cao của mô hình với sai số dao động chỉ từ 3,1% đến 9,8%. • Nghiên cứu chứng minh hệ thống ống làm mát cooling pipe giúp hạ nhiệt độ tâm khối hiệu quả, giữ mức chênh lệch nhiệt độ bề mặt luôn dưới 20°C, triệt tiêu nguy cơ nứt do ứng suất nhiệt. • Cung cấp bộ thông số đầu vào chuẩn xác về nhiệt dung riêng, hệ số dẫn nhiệt và tốc độ sinh nhiệt đoạn nhiệt của bê tông mác C40/50 phục vụ công tác thiết kế biện pháp thi công. • Đề xuất quy trình đồng bộ từ tối ưu hóa cấp phối, lắp đặt ống làm mát đến bảo ôn bề mặt giúp tiết kiệm chi phí đúc mẫu thử nghiệm thực địa và nâng cao tuổi thọ công trình.

Trong giai đoạn tiếp theo từ 6 đến 12 tháng tới, hướng nghiên cứu cần mở rộng mô phỏng cho các dạng kết cấu sàn chuyển phức hợp nhiều tầng và tích hợp thuật toán điều khiển lưu lượng nước làm mát thông minh theo thời gian thực. Các đơn vị tư vấn và nhà thầu xây dựng nên ứng dụng ngay giải pháp mô phỏng CFD vào quy trình quản lý chất lượng nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các công trình nhà cao tầng hiện đại.