CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khí động học ô tô Khi ô tô chuyển động trong môi trường không khí, sự tương tác của vỏ xe với môi trường sinh ra các lực và mô men có ảnh hưởng xấu tới chất lượng vận hành của ô tô. Hệ quả trực tiếp của sự tương tác trên là lực cản không khí làm gia tăng mức tiêu thụ nhiên liệu của ô tô, đặc biệt là ở vận tốc cao do lực này tỷ lệ với bình phương của vận tốc. Ngoài ra, lực nâng làm giảm khả năng bám đường, còn các mô men thì có thể gây nên hiệu ứng lật xe.
Đây là những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn chuyển động. Để giảm tối đa những ảnh hưởng xấu nêu trên, cần có những nghiên cứu sâu về khí động lực học của vỏ xe ngay trong quá trình thiết kế. Khí động lực học và các thông số đặc trưng Đối tượng nghiên cứu của khí động học là dòng chảy quanh một vật cản đang chuyển động bằng phương pháp Euler với hệ tọa độ gắn với vật. Để đơn giản hóa phương pháp mô tả, người ta coi một vật chuyển động với vận tốc V trong môi trường không khí tĩnh tương đương với vật đứng yên trong dòng khí có vận tốc V.1 mô tả một vật cản nằm trong dòng chảy không khí với vận tốc ở đầu nguồn là U∞.
Dòng chảy không khí tác dụng lên vật một lực F, được phân tích thành 2 thành phần Fx (lực cản) song song với phương chuyển động của dòng khí và F z (lực nâng) là thành phần vuông góc với phương chuyển động. Các lực này được tính như sau: ρ U 2∞ F x =C x A (1.1 Các lực tác dụng lên vật nằm trong dòng chảy Trong đó: Fx: là lực cản; Fz: là lực nâng; Cx, Cz: là các hệ số ρ: khối lượng riêng không khí U∞: vận tốc chuyển động (m/s) A: là diện tích cản chính diện (m2) SVTH: Tống Duy Quốc, Nguyễn Hữu Tiến GVHD: Th.S Phùng Minh Tùng 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ứng dụng phần mềm máy tính mô phỏng khí động lực học Ô tô Công thức 1.1 cho thấy hệ số Cx không có thứ nguyên, nó không đặc trưng cho một đại lượng vật lý nào mà chỉ phụ thuộc vào hình dạng khí động học của vật. Đây là thông số đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu khí động học. Công thức trên cũng cho thấy, để giảm lực cản của không khí lên vật đang chuyển động thì chỉ có cách duy nhất hợp lý là giảm hệ số C x.
Bởi vì, nếu giảm A thì sẽ giảm thể tích sử dụng làm ô tô trở nên chật chội. Nếu giảm U thì tốc độ chuyển động giảm làm năng suất vận chuyển giảm theo. Vì vậy, tất cả các nỗ lực trong nghiên cứu khí động học ô tô ngày nay tập trung chủ yếu vào việc cải thiện hình dáng khí động học vỏ xe nhằm giảm thiểu Cx. Trước đây, khi ô tô chuyển động với vận tốc chưa cao, các nghiên cứu khí động học chỉ quan tâm chủ yếu đến lực cản F x do lực nâng rất nhỏ và ảnh hưởng không nhiều đến điều kiện chuyển động.
Khi ô tô chuyển động với vận tốc cao hơn, chẳng hạn như ô tô thể thao và ô tô đua thì thành phần lực này đã được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Đối với các ô tô là đối tượng nghiên cứu của đề tài, vận tốc tối đa thường xấp xỉ 100km/h, nên ảnh hưởng của lực nâng là không đáng kể. Trong nghiên cứu khí động học, có 2 thông số quan trọng đặc trưng dòng chảy không khí là số Reynolds và số Mach. Chúng được định nghĩa như sau: ρ∞ U ∞ L Số Reynolds : Re = (1.4) a∞ Trong đó: L: thông số hình học đặc trưng (m) µ: hệ số độ nhớt động lực (N.s/m2) a: vận tốc truyền âm trong không khí.
Chỉ số “∞” trong các công thức trên thể hiện thông số được lấy ở vùng không khí cách xa vật chuyển động và không chịu ảnh hưởng của vật này. Trong nghiên cứu thủy khí động lực học người ta thường dùng các thông số trên để đánh giá trạng thái dòng chảy và làm chỉ tiêu cho các phép quy đổi tương tự. Trong đó, thông số thường dùng đối với khí động học ô tô là R e vì M thường rất bé (M<1). Còn nếu M rất lớn (trường hợp các máy bay siêu âm) thì cần sử dụng thêm một chỉ tiêu tương tự khác nữa.
Ngoài ra, số Reynolds thường được sử dụng để đánh giá và xác định trạng thái dòng chảy. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong các nghiên cứu khí động lực học. SVTH: Tống Duy Quốc, Nguyễn Hữu Tiến GVHD: Th.S Phùng Minh Tùng 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ứng dụng phần mềm máy tính mô phỏng khí động lực học Ô tô Trong phân loại dòng chảy khí động, khi M ≤ 0,3 dòng chảy được gọi là dòng chảy dưới âm với môi trường không chịu nén. Vì vậy, trong các tính toán khí động học ô tô, để đơn giản hóa bài toán người ta thường chấp nhận giả thiết là không khí không chịu nén với sai số không đáng kể (với M ≈ 0,3, sai số khoảng 5%).
Lực cản không khí Lực cản của không khí có thể phân tích thành 2 thành phần: cản do ma sát F ms và cản do chênh áp Fca, do vậy Cx cũng được chia thành hai thành phần tương ứng: C x =C ms +C ca (1.5) Nếu như thành phần cản do ma sát phụ thuộc chủ yếu vào độ nhám bề mặt của vỏ xe thì thành phần cản do chênh áp lại phức tạp hơn rất nhiều. Nó phụ thuộc chủ yếu vào hình dạng khí động lực học của vật cản.2 mô tả dòng khí với vận tốc U ∞ và áp suất p∞ chảy quanh một vật cản. Có thể nhận thấy rằng, ban đầu dòng chảy ôm lấy vật và được coi là bám vào nó cho tới điểm A. Tới đây, dòng chảy tách khỏi vật làm xuất hiện một vùng xoáy phía sau nó, vùng xoáy này có áp suất p 2 rất thấp (thường là chân không), trong khi phía trước của vật lại chịu áp suất p 1 lớn, do vậy sinh ra độ chênh áp: Δp = p1 - p2.2 Sự hình thành vùng xoáy áp thấp phía sau vật cản F x =F ms + A .Δp = Fca là thành phần lực cản do chênh áp.
Lực này phụ thuộc chủ yếu vào độ chênh áp và diện tích của vùng xoáy. Phạm vi của vùng xoáy được xác định bởi điểm tách dòng (điểm A trên hình 1. Đây là điểm mà dòng chảy bắt đầu tách khỏi vật cản và là khởi đầu của vùng xoáy. Các nghiên cứu cho thấy, trong một môi trường xác định (có độ nhớt xác định) vị trí của điểm A phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố: vận tốc dòng chảy và hình dạng của vật cản.
Vận tốc của dòng chảy mà càng lớn thì điểm A càng dịch về phía trước làm diện tích vùng xoáy sẽ tăng lên và ngược lại. Nếu hình dạng của vật cản là lý tưởng về mặt khí động học thì điểm A gần như không tồn tại mà dòng chảy sẽ bao kín vật cản như thể hiện trên hình 1. Trong trường hợp này có thể coi: Fca ≈ 0, hay Fx ≈ Fms. SVTH: Tống Duy Quốc, Nguyễn Hữu Tiến GVHD: Th.S Phùng Minh Tùng 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ứng dụng phần mềm máy tính mô phỏng khí động lực học Ô tô a) F x ≈ F ms b) F x ≫ F ms Hình 1.3 Ảnh hưởng của hình dạng của vật cản tới sự hình thành vùng xoáy Tuy nhiên, trên thực tế phần lớn các vật (trong đó có các vỏ xe ô tô) có hình dạng khí động không thể là lý tưởng.
Khi đó, tương quan giữa các thành phần F ms và Fca hoàn toàn phụ thuộc vào hình dạng khí động lực học của vật.3 thể hiện sự tạo thành vùng xoáy tuỳ theo hình dạng khí động học của vật cản.3a là trường hợp vật có dạng khí động lực học lý tưởng nên không tạo vùng xoáy và thành phần cản do chênh áp rất nhỏ.3b thể hiện trường hợp vật có dạng khí động lực học xấu, ở đây lực cản do chênh áp Fca chiếm tỷ lệ lớn trong Fx. Đối với những vật có dạng khí động học tốt (cánh máy bay, cánh tua bin, chân vịt,.) thì lực cản có thể tính như sau: F x =F ms (1+k ) (1.7) với: k = 0,1 - 0,15, có nghĩa là lực cản do ma sát chiếm tỷ lệ từ 85% đến 90%. Các nghiên cứu đã khẳng định rằng, ô tô nó có hình dạng khí động học được coi là xấu, nên chúng phải chịu lực cản khí động lực học rất lớn. Trong đó, thành phần cản do chênh áp vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo và muốn giảm lực cản thì biện pháp duy nhất là cải thiện hình dạng khí động học vỏ xe.
Như vậy, giảm C x đồng nghĩa với việc cải thiện hình dạng khí động học của ô tô. Quá trình hoàn thiện dạng khí động học vỏ xe ô tô con theo lịch sử phát triển được mô tả trên hình 1. Có thể nhận thấy rằng, trong giai đoạn trước năm 1930 với những chiếc ô tô có hình dáng giống xe ngựa cổ xưa, hệ số cản (trên hình ký hiệu là C w) rất lớn (0,65 ÷ 1,0). Sau đó, vào những năm 1970, hệ số này giảm xuống gần giá trị 0,4 và ngày nay nó chỉ còn là 0,28 - 0,32 và một số loại xe đã có thể đạt được C x = 0,25 ÷ 0,27.
Tuy nhiên, sau năm 2000, khi những chiếc ô tô gần như đã hoàn thiện về hình dạng khí động lực học thì việc giảm được dù chỉ 0,01 trong C x ngày càng trở nên khó khăn hơn, nó đòi hỏi phải có nghiên cứu toàn diện hơn, sâu sắc hơn, trang thiết bị thử nghiệm hiện đại hơn cùng với những chi phí cao hơn rất nhiều. Vì vậy, trong giai đoạn này, đồ thị mô tả Cx theo thời gian gần như nằm ngang. SVTH: Tống Duy Quốc, Nguyễn Hữu Tiến GVHD: Th.S Phùng Minh Tùng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ứng dụng phần mềm máy tính mô phỏng khí động lực học Ô tô Hình 1.4 Quá trình cải thiện hình dạng khí động học ô tô nhằm giảm hệ số cản Trong đó: W: lực cản ρ: khối lượng riêng V: vận tốc A: diện tích Trong tự nhiên, vật có hình dạng khí động học lý tưởng chính là giọt nước rơi trong không khí. Nếu những chiếc ô tô cũng có hình dạng như vậy thì lực cản khí động lực học là nhỏ nhất.
Trên phần dưới của hình 1.