phần Mở đầu, Kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có ba chƣơng: + Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN Chƣơng này chủ yếu là giới thiệu những lý thuyết liên quan đến đề tài, trình bày những khái niệm nhƣ: tính mơ hồ, ngôn ngữ mơ hồ, mơ hồ ngữ nghĩa và mơ hồ ngữ dụng, hàng rào và ngôn ngữ ngoại giao. HIỆN TƢỢNG MƠ HỒ TỪ VỰNG TRONG CÁC VĂN BẢN NGOẠI GIAO TIẾNG TRUNG (ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT) 8 z Chƣơng này chủ yếu là sự kết hợp nhiều ngữ liệu trong văn bản ngoại giao, miêu tả những đặc trƣng căn bản và hình thức biểu hiện của hiện tƣợng mơ hồ ngôn từ ngoại giao về từ vựng, nghiên cứu những nguyên nhân và cách khắc phục. HIỆN TƢỢNG MƠ HỒ CÚ PHÁP TRONG CÁC VĂN BẢN NGOẠI GIAO TIẾNG TRUNG (ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT) Chƣơng này chủ yếu là sự kết hợp nhiều ngữ liệu trong văn bản ngoại giao, miêu tả những đặc trƣng căn bản và hình thức biểu hiện của hiện tƣợng mơ hồ ngôn từ ngoại giao về cú pháp, nghiên cứu những nguyên nhân và cách khắc phục, hơn nữa, nghiên cứu hiện tƣợng mơ hồ trong nguyên tắc cộng tác, nguyên tắc lịch sự và mối quan hệ của hai nguyên tắc.
Đối với hiện tƣợng mơ hồ từ vựng chúng ta cần sử dụng cách dịch bộ phận (dịch bỏ, dịch trực tiếp, thay từ tính…) để biểu đạt chính xác nghĩa từ vựng, đặc biệt phải chú ý cách dịch của số từ. Mà đối với hiện tƣợng mơ hồ cú pháp chúng ta cần sử dụng cách dịch toàn bộ (cách biến mơ hồ thành chính xác và cách lấy mơ hồ dịch mơ hồ). Thông qua nghiên cứu về mơ hồ từ vụng và mơ hồ cú pháp có thể phát hiện những đặc điểm trong văn bản ngoại giao, chúng ta có thể phát hiện nhiều điểm thú vị trong lời nói của ngƣòi phát ngôn, và sử dụng những cách dịch để biểu đạt chính xác nghĩa câu, làm cho câu từ trở nên lịch sử hơn, uyển chuyển hơn. Thậm chí có thể giữ lại sĩ diện của hai bên để tránh khó xử trong ngoại giao.
Tính mơ hồ và hiện tƣợng mơ hồ trong văn bản 1. Tính mơ hồ Ngôn ngữ là sự thực hiện tƣ duy của con ngƣời, không thể tránh đƣợc việc mang tính mơ hồ. Việc này đã thể hiện sự đặc trƣng căn bản của ngôn ngữ và sự nhận thức phong phú của con ngƣời đối với thực chất ngôn ngữ. - Định nghĩa về tính mơ hồ Charles S.
Peirce là nhà triết học đầu tiên nghiên cứu hiện tƣợng mơ hồ. Năm 1902, ông đã định nghĩa mơ hồ là do ngôn ngữ biểu đạt không rõ ràng mới gây ra: “khi sự vật đã xuất hiện mấy loại trạng thái, cho dù ngƣời nói đã suy nghĩ những trạng thái này nhƣng vẫn không thể xác định đƣợc trạng thái này là thuộc vào mệnh đề (proposition) này hay là trừ một mệnh đề nào đó. Lúc đó, mệnh đề này tất là có mơ hồ.” (Ngũ Thiết Bình, 1999:136) Ở đây, “không thể xác định đƣợc” là vì ngƣời nói có đặc điểm lời nói mơ hồ. Tính mơ hồ phải nghiên cứu về ký hiệu (từ), sự chỉ và sự biểu.
Thế thì hiện tƣợng mơ hồ là gì? Ký hiệu mơ hồ (từ) là gì? Chúng ta phải nghiên cứu rõ ràng. - Hiện tƣợng mơ hồ và ký hiệu mơ hồ Khi nghiên cứu thế giới khách quan chúng ta phát hiện đƣợc có những sự vật hoặc hiện tƣợng không đƣợc sử dụng phƣơng pháp định lƣợng chính xác hoặc logic để miêu tả hoặc xác định một giới hạn phân loại rõ ràng. Nhƣng “không đƣợc” ở đây bao gồm 2 loại tình hình: một là sự vật không đƣợc biểu thị bằng số từ. Ví dụ, chúng ta đã xác định một hiện tƣợng là tốt nhƣng không thể biểu thị hiện tƣợng đó là tốt nhƣ thế nào.
Hai là tuy sự vật có thể sử dụng số từ hoặc logic phân rõ giới hạn, nhƣng phân tích nhƣ vậy là 10 z trái với kinh nghiệm thực tế. Ví dụ, trong quang phổ có phạm vi sóng ánh sáng có bảy màu sắc, sóng ánh sáng màu đỏ là 620 - 780nm, vì vậy nếu vƣợt qua phạm vi này thì không phải màu đỏ nữa. Nhƣng mà trong kinh nghiệm thực tế, đỏ và không đỏ không có giới hạn rõ ràng. Vì những hiện tƣợng này không có giới hạn rõ ràng nên sẽ xuất hiện những tình huống là có thuộc vào loại này hay không.
Đó chính là hiện tƣợng mơ hồ, ký hiệu biểu đạt những hiện tƣợng mơ hồ chính là ký hiệu mơ hồ. Ví dụ, hiện tƣợng “sống lâu”. Một ngƣời sống từ 90 tuổi hoặc 80 tuổi là “sống lâu”. Nhƣng hiện tƣợng sống từ 70 tuổi là “sống lâu” hay không, thì không dễ xác định.
Vì thế, đối tƣợng của từ “sống lâu” này miêu tả có phạm vi mơ hồ, nên từ “sống lâu” cũng là mơ hồ. Tính mơ hồ là tính không xác định do ngƣời sử dụng ký hiệu cảm thấy. - Dùng ký hiệu học giải thích tính mơ hồ Nghĩa của ký hiệu chính là sự chỉ (designation). Một ký hiệu có chức năng sự chỉ (designate) và sự biểu (denote).
Tính mơ hồ là tính không xác định của mối quan hệ giữa sự chỉ một cái hay nhiều cái của ngƣời sử dụng một ký hiệu nào đó với đối tƣợng của ngƣời đó. Khi chúng ta nói từ này là mơ hồ hoặc là một hiện tƣợng mơ hồ, tất là nói mối quan hệ giữa từ này với những hiện tƣợng mà nó thể hiện sự chỉ hay là mối quan hệ giữa hiện tƣợng này với một từ nào đó có tính mơ hồ. Ví dụ, “buổi trƣa” là một từ vựng mơ hồ. “12 giờ” chắc là buổi trƣa.
Lúc đó, sự chỉ định của “buổi trƣa” và một trong những sự biểu thị nó tức là “12 giờ” có quan hệ ổn định. Nhƣng “11 giờ” và “13 giờ” có phải là “buổi trƣa” hay không thì không dễ xác định. Vì vậy, đối với từ “buổi trƣa”, “11 giờ” và “13 giờ” là hiện tƣợng mơ hồ, là hai điểm mơ hồ, mối quan hệ nó có tính không xác định tất là tính mơ hồ. Vì vậy, không đƣợc nói “buổi trƣa” là 11 z hiện tƣợng mơ hồ, “11 giờ” mới là hiện tƣợng mơ hồ, nhƣng “buổi trƣa” chắc chắn là một từ vựng mơ hồ.
Xem xét về ngƣời sử dụng ký hiệu, “tính không xác định” gồm hai loại: một là nhƣ Peirce đã nói là do ngƣời sử dụng vô tri mới gây ra, hai là vì nhân tố chủ quan của ngƣời sử dụng ký hiệu. Nguyên nhân xuất hiện tính không xác định có 2 loại, một mặt là đối tƣợng chỉ định của một từ vựng nào đó có “hiện tƣợng liên ngành” (border-line cases), ví dụ chim cánh cụt, đà điểu. Mặc khác là nghĩa đen của một từ vựng không đƣợc xác định trong nghĩa từ và cách dùng, ví dụ “sống lâu” bao gồm 70 tuổi hay không lại không có một giới hạn rõ ràng nào. Ngôn ngữ mơ hồ Trong Tập mờ của Zadeh (1965) đã sử dụng từ “fuzziness”, ông cho rằng “mơ hồ” và “mơ hồ nhạt” là hai khái niệm khác nhau.
Lakoff (1972) đã nêu ra khái niệm phạm trù, ông đã định nghĩa hàng rào là những từ vựng làm cho sự việc trở nên mơ hồ hơn. Crystal và Davy (1975) đã trình bày 4 nguyên nhân. Từ năm 1978, Channell bắt đầu nghiên cứu ngôn ngữ mơ hồ, đồng thời định nghĩa ngôn ngữ mơ hồ là “một từ vựng hoặc cụm từ có thể đƣợc coi là mơ hồ, chỉ 1) khi có thể so sánh với một từ vựng hoặc cụm từ khác nhƣng có hàm ý giống nhau; 2) khi cố ý sử dụng những biểu đạt mơ hồ; 3) khi nghĩa nó nguồn từ tính không xác định của từ vựng” ( Channe11,2000:20 ). Ông cũng nói rõ “muốn hiểu đƣợc ngôn ngữ mơ hồ không chỉ phải biết từ vựng và ngữ cảnh, mà còn phải biết nhũng lý thuyết ngữ dụng học.
Mơ hồ ngữ nghĩa và mơ hồ ngữ dụng Chúng ta đều biết tính mơ hồ là một thuộc tính của ngôn ngữ còn là một hiện tƣợng ngôn ngữ đã biểu hiện. Do đó tính mơ hồ có thể biểu hiện trong ngữ nghĩa còn có thể biểu hiện trong ngữ dụng, hai bên gắn bó chặt chẽ, 12 z bổ trợ cho nhau. Mơ hồ ngữ nghĩa khá là đơn giản và trực tiếp, chỉ quan tâm đến đơn vị ngôn ngữ. Ví dụ: (1) Ông ấy là một giáo sƣ.
(2) Ông ấy là một ngƣời tốt. Trong câu (1) ông ấy hoặc là một giáo sƣ hoặc không phải là giáo sƣ, ngữ nghĩa rõ ràng. Nhƣng trong câu (2) biểu ý khá là mơ hồ, “ngƣời tốt” ở đây có thể hiểu là ngƣời lƣơng thiện hoặc là tốt tính. Tuy từ này có hàm ý rõ ràng nhƣng giới hạn không rõ ràng, phải tốt nhƣ thế nào mới là ngƣời tốt? Đó tất là mơ hồ ngữ nghĩa.
Khác với mơ hồ ngữ nghĩa, mơ hồ ngữ dụng chỉ “ngƣời nói sử dụng những lời nói không xác định, mơ hồ và gián tiếp trong ngữ cảnh và toàn văn để biểu đạt những hiện tƣợng ngoài ngôn ngữ cho ngƣời nghe” (Du Đông Minh 1997:29). Mơ hồ ngữ dụng nữa so với mơ hồ ngữ nghĩa có mục đích rõ ràng hơn, phải dựa vào ngữ cảnh, chủ thể giao tiếp từ vựng chọn lựa v. Ví dụ: (3)中方正在协调安排有关人员尽早回国。(摘自 2012 年 11 月 23 日 外交部发言人华春莹在例行记者会上的表态) (3) Trung Quốc đang sắp xếp nhịp nhàng cho những công chức có liên quan nhanh chóng về nƣớc. (Chuỗi phát ngôn của Hoa Xuân Huỳnh vào năm 2012 tháng 11 ngày 23) Trong câu (3), từ “có liên quan” đã hạn chế phạm vi của “công chức”, không chỉ rõ là những công chức nào, đó là một biểu đạt mơ hồ.
Phải theo ngữ cảnh và toàn văn mới biết “những công chức có liên quan” ở đây là những ai. Trong câu (2) và (3) chúng ta có thể phát hiện đƣợc hai từ vựng “ngƣời tốt” và “có liên quan” đều là những từ vựng mơ hồ ngữ nghĩa, hàm ý không chỉ định, không có giới hạn rõ ràng. Nhƣng câu có từ “có liên quan” có 13 z thể thấy đƣợc mục đích ngữ dụng nó là rất rõ, thuộc loại mơ hồ ngữ dụng. Do đó, mơ hồ ngữ dụng là xây dựng trên mơ hồ ngữ nghĩa, sự nghiên cứu mơ hồ ngữ dụng và mơ hồ ngữ nghĩa trên tinh thần thúc đẩy lẫn nhau, nhƣng không phải là tất cả mơ hồ ngữ dụng đều phải dựa vào mơ hồ ngữ nghĩa.
Ví dụ, (4) Miếng vải này là 500 nhân dân tệ. Khi bạn tôi nói đến giá của miếng vải đó là bao nhiêu thì tôi nói là 500 tệ chẵn, thế thì giá vải có chắc là 500 tệ không? Bất kể giá là 518 tệ hay là 498 tệ đều có thể nói là 500 tệ.