ĐẶT VẤN ĐỀ Thông ba lá (Pinus keysia Royle ex Gordon) phân bố tự nhiên ở những vùng núi cao trên 500 m thuộc các tỉnh Tây Nguyên (Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắk Lắc, Gia Lai và Kontum)[1]. Gỗ Thông ba lá được sử dụng để làm nhà, đồ mộc gia dụng, bao bì và nguyên liệu bột giấy. Vì thế, rừng Thông ba lá ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Nông nói riêng đóng vai trò to lớn không chỉ về khoa học và kinh tế, mà còn bảo vệ môi trường, bảo vệ các hồ thuỷ lợi và hệ thống thuỷ điện, tạo danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ dưỡng và du lịch. Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về năng suất và sản lượng, phân hạng đất, phân chia cấp đất và đặc tính sinh thái, tái sinh của rừng Thông ba lá; trong đó đáng kể là những nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lung (1988; 1999)[10, 11], Phó Đức Đỉnh (1995)[2], Viên Ngọc Hùng (1989)[5], Lê Hồng Phúc (1995)[15] và Ngô Đình Quế (1983)[16].
Những nghiên cứu về rừng Thông ba lá tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng, còn những vùng khác vẫn chưa được quan tâm đầy đủ. Vì thế, bên cạnh việc kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, vẫn cần có những nghiên cứu tiếp theo về rừng Thông ba lá ở những khu vực khác nhau. Nhận thấy, khi mô tả và phân tích qúa trình sinh trưởng của những loài cây gỗ mọc nhanh ở Việt Nam, nhiều tác giả thường áp dụng một số mô hình phi tuyến tính như mô hình Gompertz (1925), Schumacher (1939), Drakin – Vuevski (1940), Kosun - Strand (1964) và Korf (1973); trong đó các tham số của mô hình được xác định theo phương pháp bình phương nhỏ nhất. Về lý thuyết, những tham số của hàm phi tuyến tính không chỉ được xác định theo phương pháp bình phương nhỏ nhất, mà còn theo phương pháp phi tuyến tính.
Mặt khác, tùy theo mô hình phi tuyến tính, cả hai phương pháp này cũng có thể giải theo những cách thức khác nhau. Rõ ràng là, nếu chọn lựa những mô 2 hình thống kê khác nhau và các tham số của chúng lại được xác định theo những phương pháp khác nhau, thì kết quả mô tả sinh trưởng của cây cá thể và lâm phần cũng khác nhau. Vì thế, xác định mô hình thích hợp để mô tả gần đúng nhất quá trình sinh trưởng đường kính, chiều cao và thể tích thân cây Thông ba lá là một vấn đề cần được đặt ra. Với mong muốn góp phần cung cấp thêm những thông tin hữu ích cho việc phân tích đặc điểm sinh trưởng của quần thể Thông ba lá tự nhiên, tác giả thực hiện đề tài “Xác định những mô hình phù hợp để mô tả quá trình sinh trưởng của Thông ba lá tự nhiên (Pinus keysia Royle ex Gordon) ở khu vực Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông”.
Những kết quả nghiên cứu của đề tài đưa lại những ý nghĩa sau đây: (1) Về lý luận, xây dựng cơ sở khoa học cho việc mô tả và nghiên cứu quá trình sinh trưởng của rừng Thông ba lá ở khu vực nghiên cứu. (2) Về thực tiễn, đề tài cung cấp những mô hình phù hợp để dự đoán quá trình sinh trưởng đường kính, chiều cao và thể tích thân cây Thông ba lá tự nhiên. KHÁI QUÁT VỀ RỪNG THÔNG BA LÁ 1. Đặc điểm phân loại Thông ba lá Thông ba lá (Pinus keysia Royle ex Gordon) thuộc họ Pinaceae, là loài cây gỗ lớn, cao 30-35 m, đường kính 50-60 cm, thân thẳng, vỏ dày và có màu nâu sẫm, nứt dọc, bong mảng, chịu lửa tốt.
Thông ba lá thường có ba lá kim màu xanh thẫm, mọc cụm trên chồi ngắn (bẹ), dài 15-20cm. Quả nón hình trứng viên chùy, dài 5-9cm. Quả có vỏ dày và có rốn rất rõ, có khi có gai nhọn, hạt có cánh dài 1,5-2,5 cm. Thông ba lá ra hoa vào tháng 4-5, quả chín vào tháng 11-12 năm sau.
Quả có thể tồn tại trên cây đến 9-10 năm. Thông ba lá có thể ra hoa ngay từ lúc 6-7 tuổi. Gỗ mềm, nhẹ, màu vàng đến da cam; tỷ trọng 0,650 - 0,700[1]. Đặc tính sinh thái của Thông ba lá Theo Thái Văn Trừng (1999)[17], Thông ba lá phân bố ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Trung Quốc, Lào và Việt Nam… Ở Việt Nam, Thông ba lá phân bố ở khu vực Tây Nguyên, Hà Giang, Yên Bái và Lào Cai.
Thông ba lá là loài cây tự nhiên của khu hệ thực vật núi vừa và cao. Ở phía nam nước ta, Thông ba lá phân bố ở những nơi có độ cao từ 500 m đến 1.900 m so với mặt biển; lượng mưa trung bình từ 1.500 mm trở lên; nhiệt độ bình quân hàng năm từ 18-200C. Thông ba lá ưa sáng mạnh, tái sinh tốt trên đất trống. Khi nghiên cứu về rừng Thông ba lá ở khu vực Tây Nguyên, Nguyễn Ngọc Lung (1988 ; 1999)[10], [11] đã phân chia rừng Thông ba lá thành 3 vùng - đó là vùng thích hợp với độ cao từ 1.800 m; vùng mở rộng với độ cao dưới 1.800 m và vùng giới hạn với độ cao dưới 600 m.
Vùng thích hợp là trung tâm phân bố của rừng Thông ba lá thuần loài; trong đó Thông ba lá chiếm ưu thế ở tầng ưu thế sinh thái. Vùng mở rộng là vùng 4 ngoại vi ở độ cao dưới 1. Khi phân bố ở độ cao dưới 1.000 m, Thông ba lá mọc hỗn giao với Thông 2 lá (Pinus merkusii) và Dầu trà beng (Dipterocapus obtusiforlius). Nếu phân bố ở độ cao trên 1.800 m, Thông ba lá mọc hỗn giao với những loài cây thuộc họ Fagaceae.
Ở phạm vi giới hạn dưới 600 m, Thông ba lá sinh trưởng kém. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của các điều kiện ngoại cảnh tới sinh trưởng của Thông ba lá, Nguyễn Ngọc Lung (1988)[10] nhận thấy, không có sự khác biệt đáng kể về sinh trưởng chiều cao ở hai vùng sinh thái khác nhau là Đà lạt và Bảo lộc. Ngoài ra, lượng tăng trưởng đường kính có sự khác nhau trong mùa mưa và mùa khô. KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH HÓA SINH TRƯỞNG CỦA CÂY GỖ VÀ QUẦN THỤ 1.
Trên thế giới Wenk, G; Antanaitis, V và Smelko, S (1990)[31] đã tổng hợp một số phương trình sinh trưởng thường được vận dụng để mô tả sinh trưởng cho rừng thuần loài đều tuổi. Các phương trình này được tổng hợp ở bảng dưới đây: Một số phương trình sinh trưởng thường được vận dụng để mô tả sinh trưởng cho rừng thuần loài đều tuổi Dạng hàm số Công thức Y mebe cT Gompertz (1925) m Verhulst-Robertso (1925) Y a(T b) 1 e 5 Dạng hàm số Công thức Koller (1878) Y aTb ecT 1 Weber (1891) Y Ymax 1 c 1, 0T b Terazaki (1907) Y ae T Mitscherlich (1919) Y Ymax 1 ecT Tichendorf (1925) Y Ymax Y0 1 ecT Korsun-Strand (1935) T2 Y (1964) a bT cT2 TY aT b Tretchiakov (1937) b Schumacher (1939) Y me Tc Y a 1 eKT m Drakin-Vuevski (1940) Assmann-Franz (1964) Y aTb c logT Nikitin (1963) Y a bT cT2 dT3 Thomasius (1964) dT Y Ymax 1 ecT 1 e c Korf (1973) Y mebT Y Y0 a 1 eKT 1 m Hagglund (1974) 6 Dạng hàm số Công thức 1 Rawat-Franz (1974) Y a 1 be KT 1 m a Kiviste (1984) (a 0 a1 1)T2 2 Y Y100 2 a 0 a1T T Alder,D.1990 (Vũ Tiến Hinh, 2003)[4] đã sử dụng hàm Schumacher để mô tả sinh trưởng chiều cao tầng ưu thế làm cơ sở phân chia cấp đất. Để xác định các tham số của phương trình, tác giả đã chuyển hàm phi tuyến về dạng tuyến tính: Y=A + B. X, bằng cách đặt: Y = LnH; X = 1/Ac Các tham số A và B được ước lượng theo phương pháp hối quy phân nhóm (mối đường sinh trưởng chiều cao thực nghiệm được coi là một nhóm): m m X XY i Y i i a 2 Xi m m Xi 2 ni X2i m Xi Yi XYi b ni m Xi 2 X2i ni Khi mô tả sinh trưởng chiều cao theo đơn vị cấp đất cho những lâm phần White pine Avery, T.1975 (Vũ Tiến Hinh, 2003)[4] sử dụng quan hệ: Ho a1 a2S 1 e 3 4 a a a S A 5 7 Trong đó: Ho là chiều cao ưu thế S là chỉ số cấp đất A là tuổi Với các lâm Thông không tỉa thưa, các tác giả xác lập phương trình dưới đây cho từng cấp đất: LogH0 = LogS - b1(A-1 - Ao-1) + b2(A-2 - Ao-2) Với: Ho là chiều cao ưu thế S là chỉ số cấp đất A là tuổi Ao là tuổi cơ sở 1.
Ở Việt Nam Trong lâm nghiệp, người ta phân biệt hai khái niệm sinh trưởng và tăng trưởng của quần thụ hay lâm phần. Sinh trưởng là sự biến đổi về kích thước cây gỗ theo tuổi. Tăng trưởng là lượng biến đổi được về kích thước của cây cá thể hay lâm phần trong khoảng thời gian xác định. Ngoài ra, do sinh trưởng của cây rừng và lâm phần thay đổi theo thời gian, nên người ta gọi đó là quá trình sinh trưởng của cây rừng và lâm phần (Nguyễn Văn Thêm, 2002)[20].
Lâm học cũng đã chỉ ra rằng, quá trình sinh trưởng của rừng bị kiểm soát bởi rất nhiều nhân tố như khí hậu, địa hình, đất, sinh vật, con người và thời gian. Nói cách khác, quá trình sinh trưởng của cây rừng là một hàm số của khí hậu, địa hình, đất, sinh vật, con người và thời gian, nghĩa là sinh trưởng = f(khí hậu, địa hình, đất, sinh vật, con người và thời gian) [20]. Chính vì thế, nhiều nhà lâm học đã xây dựng những mô hình để biểu thị quá trình sinh trưởng của cây cá thể và quần thụ theo thời gian. Sau đó những mô hình này được vận dụng cho nhiều mục đích khác nhau trong lâm học và điều tra rừng.
8 Để mô hình hóa qúa trình sinh trưởng đường kính, chiều cao và thể tích thân cây gỗ theo tuổi, trước hết cần phải phân tích hình thái của những đường cong biến đổi về đường kính, chiều cao và thể tích thân cây cá thể trong toàn bộ thời gian sinh trưởng của cây (Nguyễn Hải Tuất, 1982[18]; Chế Đình Lý, 1997[12]; Nguyễn Ngọc Lung, 1999[11]; Vũ Tiến Hinh, 2005[3], [4]).