Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý mô hình rừng cộng đồng Năm 1970, khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng xuất hiện lần đầu tiên tại Ấn Độ, đã được tổ chức FAO nghiên cứu, quảng bá và nhân rộng. Hiện nay lâm nghiệp cộng đồng được áp dụng hầu hết ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển và được xem là một phương thức quản lý rừng có hiệu quả. Hầu hết các quốc gia ASEAN đang có những chính sách để phân cấp, phần quyền trong quản lý tài nguyên rừng, các quốc gia này đã thử nghiệm khá thành công cách tiếp cận có sự tham gia của người dân và chú ý đến kiến thức bản địa, nâng cao năng lực cho các cộng đồng thiểu số để xây dựng các mô hình quản lý rừng cộng đồng.
Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến lâm nghiệp cộng đồng về các khía cạnh, cải tiến chính sách, thể chế tiếp cận, phát triển công nghệ trên cơ sở kiến thức bản địa để phát triển quản lý rừng dựa vào cộng đồng trên thế giới. Sau đây là điểm qua các khía cạnh liên quan từ quan điểm, khái niệm, thể chế chính sách quản lý rừng cộng đồng đã được phản ánh, nghiên cứu, tổng kết. Khái niệm cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ) a. Cộng đồng: Theo các nhà xã hội học, nhân chủng học ở Việt Nam.
Xét về mặt ngôn ngữ “Cộng đồng” là sự kết hợp của 2 từ “Cộng” và “Đồng”. Từ “Cộng” được hiểu là cộng vào, gộp vào, thêm vào còn từ “Đồng” có nghĩa là cùng, cùng nhau, giống nhau, chung nhau về một số đặc điểm nhân chủng học, lãnh thổ, phong tục tập quán, sở thích,… từ ý nghĩa trên “Cộng đồng” được hiểu là 8 “Toàn thể những người sống thành tập thể hay một xã hội mà có những đặc điểm giống nhau, gắn bó với nhau thành một khối và giữa họ có sự liên hệ hợp tác với nhau để cùng nhau hoạt động, cùng nhau thực hiện những lợi ích của mình và lợi ích chung của toàn xã hội (Bảo Huy, 2006) [1], (Trần Kim Thanh, 2009) [22]. Trong ngành lâm nghiệp, ở lĩnh vực hoạt động quản lý tài nguyên rừng cộng đồng thì khái niệm “cộng đồng” được hiểu như sau: Nguyễn Hồng Quân (2001) [19] đã phân biệt cộng đồng ra làm hai loại: - Cộng đồng dân tộc: Hiện nước ta có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm riêng về văn hóa, tổ chức xã hội, tiếng nói, tập quán truyền thống và hệ thống sản xuất. - Cộng đồng làng, bản: Hiện nay nước ta có khoảng 50.000 làng, bản tập hợp lại trong khoảng 9.
Từ xưa mỗi làng bản được coi là một tổ chức cộng đồng chặt chẽ với những đặc điểm rất riêng như làng xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng lâu đời được hình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước, trong khi thôn bản ở miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở quan hệ sắc tộc, nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, ít đầu tư và sử dụng các sản phẩm tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Theo thống kê và nêu đặc điểm của tác giả cho thấy khái niệm “cộng đồng” sử dụng trong quản lý cộng đồng ở nước ta là “cộng đồng thôn bản”. Phạm Xuân Phương (2001) [17], [18] “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, truyền thống, có mỗi quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau, thường có ranh giới không gian trong một làng bản”. Điều 9, Luật đất đai (2003) [21] “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng một địa bàn thôn, làng, bản, ấp, buôn, 9 phum sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất.
Có rất nhiều khái niệm về cộng đồng nhưng phần lớn các tác giả đều cho rằng thuật ngữ “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư thôn, bản, làng, buôn,. cho nên khái niệm “cộng đồng” trong đề tài được hiểu là cộng đồng dân cư thôn bản. Cộng đồng dân cư thôn, bản là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp,. hoặc một đơn vị tương đương.
Quản lý rừng cộng đồng Thuật ngữ quản lý rừng cộng đồng là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng. Hình thức quản lý này bao gồm các đối tượng chính sau: - Cộng đồng trực tiếp quản lý những diện tích rừng hoặc những đám cây gỗ của họ từ lâu đời. - Cộng đồng trực tiếp quản lý những khu rừng được Nhà nước giao. - Các hoạt động mang tính chất lâm nghiệp khác do cộng đồng tổ chức phục vụ lợi ích trực tiếp cho cộng đồng.
- Quản lý rừng cộng đồng là cộng đồng quản lý rừng thuộc sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng. Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản được quản lý theo truyền thống trước đây, rừng trồng của các hợp tác xã trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý. Theo bộ NN&PTNT (2006) [5]: Quản lý rừng cộng đồng là một hình thức quản lý rừng trong đó cộng đồng với tư cách là chủ rừng tham gia vào các hoạt động giao rừng, lập kế hoạch quản lý rừng và thực hiện kế hoạch đó, 10 thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi, giám sát, đánh giá rừng do nhà nước giao cho cộng đồng. Theo tổ chức Nông Lương thế giới FAO (1990) [25]“ Cộng đồng là những người sinh sống tại một chỗ trong một tổng thể hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung” - Khái niệm về quản lý rừng cộng đồng: Là một phương thức nhằm duy trì và phát triển rừng cũng như giải quyết vấn đề đói nghèo ở vùng cao, một nguyên nhân gốc rễ làm suy giảm tài nguyên rừng ở các quốc gia.
Quản lý rừng cộng đồng dựa trên quan điểm “Con người trước và lâm nghiệp bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm quản lý và hưởng lợi từ tài nguyên rừng (Dern, 2001) [32] Quan điểm này cho thấy quản lý rừng cộng đồng đề cập đên việc phân cấp quản lý rừng một cách mạnh mẽ trong đó nhấn mạnh đến giao quyền quản lý các khu rừng và cơ hội cho người dân cộng đồng có được hưởng lợi từ rừng, khi mà các vấn đề đói nghèo và mất công bằng trong tiếp cận nguồn tài nguyên được giải quyết thì các cộng đồng thôn, bản sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ, quản lý rừng, điều này đã được nhiều chính phủ, tổ chức phi chính phủ nhận thức rõ ràng và từ đó đã thúc đẩy cho tiền trình này phát triển ở nhiều cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng. Trong một số năm gần đây để khẳng định hơn tính sở hữu và làm chủ trong quản lý tài nguyên rừng, khái niệm quản lý rừng cộng đỗng đã được phân định rõ hơn” Quản lý rừng cộng đồng là bao gồm tất cả các hoạt động, tổ chức thu hút cộng đồng tham gia quản lý rừng và được chia sẻ lợi ích từ nguồn tài nguyên” 11 1. Hệ thống lý thuyết quản lý tài nguyên và chính sách quản lý rừng cộng đồng a. Lý thuyết về quản lý tài nguyên Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tài nguyên chung có thể quản lý ở một trong bốn chế độ sở hữu (vô chủ, sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, sở hữu cộng đồng).
Trên thực tế, các loại tài nguyên có giá trị như thủy sản, đồng cỏ và rừng ít khi ở dạng vô chủ mà thường được quản lý dưới chế độ sở hữu cộng đồng (Arnol et al. Trong hầu hết các lý thuyết về kinh tế tài nguyên và kinh tế, thể chế trước đây không có sự phân biệt rõ sự khác biệt giữa chế độ sở hữu cộng đồng và chế độ vô chủ. Hardin (1968) [33] và nhiều nhà kinh tế sau này đều cho rắng quản lý tài nguyên dưới chế độ cộng đồng là không bền vững. Quan điểm này đã dẫn đến chính sách tư nhân hóa hoặc quốc hữu hóa việc quản lý nhiều loại tài nguyên ở nhiều quốc gia, bao gồm cả các loại tài nguyên đã được các cộng đồng quản lý theo truyền thống từ nhiều thế hệ.
Thực ra lý thuyết của Hardin chỉ hoàn toàn đúng trong trường hợp tài nguyên vô chủ chứ không hoàn toàn đúng đối với tài nguyên được quản lý dưới chế độ sở hữu cộng đồng. Mặt khác nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng chỉ ra rằng không một chế độ sở hữu nào có thể đảm bảo việc quản lý tài nguyên chung là bền vững và hiệu quả. Bằng việc phân tích khả năng loại trừ và kiểm soát tài nguyên, Arnol et al. (1987) [26] đã chỉ ra rằng vấn đề suy giảm tài nguyên chung có thể xảy ra ở bất cứ chế độ sở hữu tài nguyên nào và không có một chế độ sở hữu nào được coi là duy nhất và tốt nhất.
Hanna và cộng sự (1995) (dẫn theo Tuân et al., 2011) [36] nhấn mạnh rằng việc gán quyền sở hữu cho tài nguyên chung để quản lý là cần thiết nhưng chưa đủ. Vần đề khai thác quá mức và suy giảm tài nguyên vẫn có thể xảy ra 12 nếu các quyền không được đảm bảo. Ông nhấn mạnh rằng bất cứ chế độ quản lý nào cũng cần phải giải quyết được hai vấn đề cơ bản: một là ngăn chặn hữu hiệu được sự xâm phạm của người ngoài và hai là quản lý điều khiển được các thành viên của chủ thể quản lý. Gần đây, nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã chứng minh rằng tài nguyên chung có thể được quản lý một cách bền vững không chỉ ở chế độ tư nhân hay ở chế độ nhà nước mà có thể ở cả chế độ sở hữu cộng đồng.
Các thánh viên của một cộng đồng hay một nhóm người có liên hệ lẫn nhau có thể quản lý tài nguyên chung của họ một cách bền vững cho lợi ích chung của họ (Berkes et al. 1989; Ostrom 1990; Thomson 1992; Baland và Platteau 1996).