Chương 1: Tổng quan về đầu tư xây dựng và quản lý dự án đầu tư xây dựng Chương 2: Cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án Chương 3: Phân tích mô hình kinh doanh của dự án đầu tư xây dựng các trạm sạc xe điện tại Hà Nội Tài liệu tham khảo Phụ lục Kết luận – Kiến nghị. Tài liệu phục vụ nghiên cứu - Các sách hướng dẫn đã được xuất bản - Các báo cáo đã được công bố trong Hội nghị khoa học, Tạp chí khoa học trong và ngoài nước, các đề tài khoa học các cấp, luận văn tiến sĩ, thạc sĩ,… của các tác giả trong và ngoài nước. - Các tài liệu trên Internet. 3 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG 1.
KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƢ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG 1. Khái niệm về dự án và dự án đầu tƣ 1. Dự án Theo từ điển Oxford của Anh định nghĩa: Dự án 1T (project) là một ý đồ, một nhiệm vụ được đặt ra, một kế hoạch vạch ra để hành động. Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn ISO 9000:2000 và theo tiêu chuẩn Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về dự án như sau: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực.
Theo một quan điểm khác thì dự án đầu tư là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn sẵn có để tạo ra những lợi ích thiết thực cho nhà đầu tư và xã hội. Dự án đầu tư Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động về chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định. Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. Qua những khái niệm nêu trên có thể thấy rằng, một dự án đầu tư không phải dừng lại là một một ý tưởng hay phác thảo, mà nó có tính cụ thể và mục tiêu xác định.
Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng lặp lại, mà nó sẽ phải tạo nên một thực tế mới mà trước đó chưa từng tồn tại. Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như: Xét về tổng thể, hình thức, quản lý, kế hoạch hóa, phân công lao động xã hội. Dự án đầu tư là công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tư. Dự án đầu tư xây dựng công trình Theo giải thích của Luật Xây dựng Việt Nam ngày 26/11/2003 thì: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.
Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”. Cũng cần hiểu rõ thêm khái niệm “Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước” là dự án có thành phần vốn nhà nước tham gia chiếm từ 30% tổng mức đầu tư của dự án trở lên và được xác định tại quyết định phê duyệt dự án. Trong đó, vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý. Như vậy có thể hiểu dự án đầu tư xây dựng công trình có hai nội dung là đầu tư và hoạt động xây dựng.
Nhưng do đặc điểm của các dự án xây dựng bao giờ cũng yêu cầu một diện tích nhất định, ở một địa điểm nhất định (bao gồm đất, khoảng không, mặt nước, mặt biển và thềm lục địa) do đó ta có thể thấy một dự án đầu tư xây dựng bao gồm các vấn đề sau: 1. Kế hoạch: được thể hiện rõ qua các mục đích được xác định, các mục đích này phải được cụ thể hóa thành các mục tiêu và dự án chỉ được hoàn thành khi các mục tiêu cụ thể đạt được. Tiền vốn: Chính là sự bỏ vốn để xây dựng công trình. Tiền vốn được coi là phần vật chất có tính quyết định sự thành công của dự án.
Thời gian: Là một đặc điểm rất quan trọng cần được quan tâm bởi thời gian 4. Đất: Đất cũng là một yếu tố vật chất hết sức quan trọng. Đất ngoài các giá trị về địa chất, còn có giá trị về vị trí, địa lý, kinh tế, môi trường, xã hội…Vì vậy, quy hoạch, khai thác và sử dụng đất cho các dự án xây dựng có những đặc điểm và yêu cầu riêng, cần hết sức lưu ý khi thực hiện dự án xây dựng. Công trình xây dựng: là sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng, được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt 5 vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm: công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình giao thông, thủy lợi, năng lượng, công nghiệp và các công trình khác. Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình a. Theo quy mô và tính chất: Theo tính chất, các dự án đầu tư xây dựng công trình được phân thành dự án quan trọng Quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư và các dự án khác; còn theo quy mô vốn đầu tư, các dự án được phân thành 3 nhóm A, B, C; Công trình quan trọng quốc gia có 5 tiêu chí, trong đó có tiêu chí về vốn có quy mô từ 20.000 tỷ VNĐ trở lên. Theo nguồn vốn đầu tư: Theo nguồn vốn đầu tư, các dự án được phân thành: - Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; - Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; - Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; - Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn, vốn của các tổ chức ngoài quốc doanh, vốn FDI c.
Theo lĩnh vực: Xã hội; kinh tế; tổ chức hỗn hợp d. Theo loại hình: Giáo dục đào tạo; nghiên cứu và phát triển; đổi mới; tổng hợp e. Theo thời hạn: Ngắn hạn (1-2 năm), trung hạn (3-5 năm), dài hạn (5 năm) f. Theo khu vực: Quốc tế; quốc gia; vùng; miền; liên ngành; địa phương g.
Theo chủ đầu tư: Nhà nước; doanh nghiệp; cá thể riêng lẻ h. Theo đối tượng đầu tư: dự án đầu tư tài chính, dự án đầu tư vào đối tượng cụ thể 1. Các giai đoạn của dự án đầu tư Theo cách thông thường và theo cách phân kỳ của quy phạm pháp luật hiện hành, vòng đời của một dự án đầu tư được chia ra làm 3 giai đoạn khác nhau, đó là: giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc đầu tư (vận hành các kết quả đầu tư). Tuy nhiên, xét theo quá trình, 6 thì từ khi hình thành ý tưởng đến khi kết thúc dự án của quản lý dự án, thông thường một dự án đầu tư xây dựng công trình phải trải qua các quá trình sau: Xác định dự án; Phân tích và lập dự án; Thẩm định và phê duyệt dự án; Triển khai thực hiện dự án; Nghiệm thu tổng kết và giải thể dự án.
Xác định dự án Xác định dự án là giai đoạn đầu tiên trong vòng đời dự án, trong giai đoạn này, chủ đầu tư và nhà quản lý dự án có nhiệm vụ phát hiện những lĩnh vực có tiềm năng để đầu tư, trên cơ sở đó hình thành sơ bộ các ý đồ đầu tư. Phân tích và lập dự án Đây là giai đoạn nghiên cứu chi tiết những ý tưởng đầu tư đã được đề xuất trên các phương tiện: kỹ thuật, tổ chức - quản lý, thể chế xã hội, thương mại, tài chính, kinh tế. Nội dung chủ yếu của giai đoạn phân tích và lập dự án là nghiên cứu một cách toàn diện tính khả thi của dự án. Tùy theo quy mô, tính chất, cấp độ của dự án mà trong giai đoạn này có thể gồm 2 bước: nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi.
Các dự án lớn và quan trọng thường phải thông qua hai bước này, còn các dự án nhỏ và không quan trọng thì trong giai đoạn này chỉ cần thực hiện bước nghiên cứu khả thi. Chuẩn bị tốt và phân tích kỹ lưỡng sẽ làm giảm những khó khăn và chi phí trong giai đoạn thực hiện đầu tư. Thẩm định và phê duyệt dự án Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, giai đoạn Thẩm định và phê duyệt dự án được thực hiện với sự tham gia của các cơ quan nhà nước chuyên ngành, các tổ chức tài chính và các thành phần tham gia dự án. Mục đích của việc thẩm định và phê duyệt dự án là nhằm xác minh, thẩm tra lại toàn bộ kết luận đã được đưa ra trong quá trình chuẩn bị và phân tích dự án, trên cơ sở đó chấp nhận hay bác bỏ dự án.
Dự án sẽ được phê duyệt và đưa vào thực hiện nếu nó được thẩm định xác nhận là có hiệu quả và có tính khả thi. Ngược lại, thì tùy theo mức độ đạt được, dự án có thể được sửa đổi cho thỏa đáng hay buộc phải làm lại cho đến khi được chấp nhận. Triển khai thực hiện dự án Triển khai thực hiện dự án là giai đoạn bắt đầu triển khai vốn và các nguồn ldực vào để thực hiện dự án đã được phê duyệt đến khi dự án chấm dứt hoạt động. Thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phân tích 7 kỹ lưỡng, song thực tế rất ít khi được tiến hành đúng như hoạch định.