CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA CHẤT - CÔNG NGHỆ MỎ CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU TẦNG CHỨA MIOXEN GIỮA MỎ ĐÔNG DƯƠNG I. Lịch sử thăm dò, khai thác và phát triển mỏ Đông Dương 1) Vị trí và diện tích phát triển Mỏ Đông Dương nằm ở phía Tây Bắc lô 02/97 thuộc bồn trũng Cửu Long, thềm lục địa phía Nam Việt Nam, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 160 km về phía Đông. Chiều sâu mực nước biển khoảng từ 40m đến 70m, diện tích ban đầu là 11.1) Đông Dương Hình 1.1: Vị trí mỏ Đông Dương 2) Lịch sử tìm kiếm thăm dò và phát triển của mỏ Đông Dương Năm 2007, giếng khoan thăm dò DD-1X đầu tiên phát hiện dầu khí đối tượng Mioxen giữa mỏ Đông Dương. 3 DST được thử cho đối tướng đá móng; tập BI.
Chỉ có DST#3 thành công với lưu lượng dầu được 2052 thùng/ngày với tính chất dầu là 29oAPI và thử kết hợp đối tượng BII.30 với lưu lượng tổng là 2428 thùng/ngày. Năm 2008, giếng khoan thăm dò thứ 2 DD-2X của mỏ phát hiện dầu HV: PHẠM TUẤN VIỆT 12 Đề tài: Phát triển mô hình khai thác cho đối tượng đá chứa dầu nặng Mioxen giữa mỏ Đông Dương bể Cứu Long cho đối tượng Mioxxen giữa. Kết quả thử 3 DST chỉ thu hồi được dầu trên bề mặt cho 3 tập vỉa BI. Năm 2010, giếng khoan thăm dò thứ 3 DD-3X phát hiện dầu trong đá móng trước đệ tam.
2 DST được thử cho đối tượng đá móng và tập vỉa BII.20 với lưu lượng dầu lần lượt là 719 thùng/ngày và 540 thùng/ngày. Tính chất dầu cho dầu đá móng là 33oAPI và 21oAPI cho tập vỉa BII. Mỏ Đông Dương là mỏ đầu tiên ở bể Cửu Long phát hiện dầu nặng trong đối tượng Mioxen giữa, phát hiện này giúp định hướng cho các cấu tạo liền kề hoặc có thể có dầu trong đối tượng Mioxen giữa có tính chất dầu tương tự. Thời kỳ phát triển mỏ được bắt đầu năm 2009 sau khi NĐH đệ trình báo cáo phát triển mỏ đại cương cụm mỏ Đông Dương cùng với cấu tạo mỏ Tây Long.
Năm 2010, NĐH cập nhật báo cáo trữ lượng dầu tại chỗ cụm mỏ Đông Dương và Tây Long. Tiếp theo các năm 2011-2012 NĐH đệ trình báo cáo phát triển mỏ tổng thể cho cụm mỏ Đông Dương và Tây Long. 2 giàn đầu giếng được lắp đặt trên 2 cấu tạo. Tháng 6 và tháng 7 là chào đón dòng dầu đầu tiên cho cụm mỏ Đông Dương và Tây Long.
Các đặc trưng địa chất và công nghệ mỏ của đối tượng Middle Miocene mỏ Đông Dương 1. Đặc điểm cấu trúc và địa chất mỏ Đông Dương a. Đặc điểm cấu trúc Mỏ Đông Dương nằm ở phía Tây Bắc lô 02/97 thuộc phần Đông Bắc bồn trũng Cửu Long. Bồn trũng Cửu Long nằm dọc theo bờ biển phía Đông Nam của Việt Nam thuộc loại bể tách giãn vào thời gian sớm của Đệ Tam bao gồm trầm tích trong giai đoạn tách giãn lún chìm tuổi Oligoxen – Mioxen sớm và trầm tích thềm lục địa tuổi Mioxen sớm – Pleixtoxen của vùng mép bờ thụ động tựa kề lên móng tuổi Mezozoi muộn.
Dựa trên kết quả minh giải tài liệu địa chấn PSDM, 7 tầng phản xạ địa chấn đã được minh giải và vẽ bản đồ gồm: Nóc móng trước Đệ Tam, Nóc Trà Tân dưới (tập E) – Oligoxen sớm, Nóc Trà Tân giữa (tập D) – Oligoxen muộn, Nóc Bạch Hổ dưới (Tập BI.1) – Mioxen sớm, Nóc Bạch Hổ trên (tập BI.2) – Mioxen sớm, Nóc Côn Sơn dưới (tập BII.1) – Mioxen giữa, Nóc Côn Sơn trên (tập BII. HV: PHẠM TUẤN VIỆT 13 MS: 7140885 Đề tài: Phát triển mô hình khai thác cho đối tượng đá chứa dầu nặng Mioxen giữa mỏ Đông Dương bể Cứu Long Đặc điểm cấu trúc chính của mỏ Đông Dương là có hướng Đông Bắc- Tây Nam. Phần lớn các đứt gẫy hoạt động trong thời gian trước Đệ Tam, một số đứt gẫy hoạt động trong thời gian Mioxen sớm và có hướng Đông Bắc – Tây Nam với đặc trưng chủ yếu là đứt gẫy đồng trầm tích. Hầu hết các đứt gãy kết thúc ở Mioxen dưới, một số kéo dài qua tập sét Bạch Hổ đến Mioxen giữa và nhiều đứt gãy kết thúc trong tập sét của tầng D (Oligoxen trên).
Một số đứt gẫy với biên độ dịch chuyển nhỏ có hướng Đông – Tây và Tây Bắc – Đông Nam. Đá sinh trong khu vực Lô 01/97 & 02/97 là các tập sét trong các tầng C, D, E, đặc biệt là tập sét môi trường đầm hồ tuổi Oligoxen được đánh giá rất cao. Theo kết quả phân tích địa hóa các giếng khoan khu vực Lô cho thấy tập sét Oligoxen có thành phần sét màu vàng đen, nâu đen, nâu xám chiếm từ 20-95% , rất giàu hàm lượng hữu cơ và tiềm năng HC rất tốt với Kerogen loại I và II là chủ yếu (TOC = 0,07-14,07%, S2= 0,69-112,70Kg/T, S1+S2 = 0,59-116,26Kg/T, HI= 207,93-801,00mg/g, PI=0,03-0,71) Đặc điểm bẫy chứa của mỏ Đông Dương la dạng khép kín 4 chiều và khép kín vào đứt gãy 4 chiều phủ lên khối móng nâng cao có hướng Đông Bắc – Tây Nam.2 Các loại bẫy trong khu vực cua Lô HV: PHẠM TUẤN VIỆT 14 Đề tài: Phát triển mô hình khai thác cho đối tượng đá chứa dầu nặng Mioxen giữa mỏ Đông Dương bể Cứu Long Hình 1.3: Mặt cắt địa chấn qua mỏ Đông Dương Hình 1.4: Mặt cắt địa chất qua khu vực phía Nam và Bắc Đá chắn khu vực trong khu vực lô 01&02/97 bao gồm sét tập D và sét Bạch Hổ. Đóng vai trò chắn quan trọng quyết định cho móng là sét tầng D và /hoặc sét tầng E, HV: PHẠM TUẤN VIỆT 15 Đề tài: Phát triển mô hình khai thác cho đối tượng đá chứa dầu nặng Mioxen giữa mỏ Đông Dương bể Cứu Long các tập này nằm phủ trực tiếp lên móng, có thành phần chủ yếu là sét giàu vật chất hữu cơ màu đen nâu, xen lẫn lớp mỏng cát kết và bột kết.
Tập D, có chiều dày lớn từ 200-1200m, có diện phân bố mở rộng tại khu vực phía Tây Lô, thu hẹp lại ở phía Bắc Đông Bắc Lô, và vắng mặt ở phía Đông Lô - đới nâng Côn Sơn. Sét Bạch Hổ có vai trò chắn tốt cho các vỉa tầng Miocen dưới. Trong phần thấp hơn của tập BI, C, và E, khả năng chắn cho các cấu tạo có thể yếu hơn, do lớp sét mỏng hơn và nhiều cát hơn, do đó, có thể gặp rủi ro về chắn. Các tầng sét xen kẹp trong tập BII (Miocen trung) cũng đóng vai trò chắn quan trọng cho các vỉa chứa cùng tuổi trong vùng và đây là nhân tố mới cần hết sức quan tâm nghiên cứu.
Địa tầng trầm tích mỏ Đông Dương Nhìn chung địa tầng và môi trường lắng đọng trầm tích của mỏ Đông Dương phù hợp với địa tầng của bể Cửu Long. Địa tầng của mỏ Đông Dương bao gồm Plioxen đến hiện tại (Thành hệ Biển Đông, Tập A), Mioxen trên (Thành hệ Đồng Nai, Tập BIII), Mioxen giữa (Thành hệ Côn Sơn trên-dưới, Tập BII.1), Mioxen dưới (Thành hệ Bạch Hổ trên- dưới, Tập BI.1), Oligoxen trên (Thành hệ Trà Tân trên-giữa, Tập C và D), Oligoxen dưới (Thành hệ Trà Tân dưới, Tập E) và móng trước Đệ Tam (Hình 1. Mỏ Đông Dương có các đới chứa dầu là cát kết của thành hệ Đồng Nai (Vỉa BIII Sand), thành hệ Côn Sơn trên (Vỉa BII.30), thành hệ Côn Sơn dưới (Vỉa BII.10), thành hệ Bạch Hổ trên (Vỉa BI.30) và móng trước Đệ Tam. ‒ Đá chứa Mioxen giữa-trên, thành hệ Côn Sơn - Đồng Nai (Tập BIII, BII.1) là cát kết trầm tích trong môi trường biển nông ven bờ, vịnh có ảnh hưởng của nước biển, sông.
Các thân cát dày và từng phần là cát lấp đầy lòng sông cổ có dạng hạt mịn dần về phía nóc của vỉa. ‒ Đá chứa Mioxen dưới thành hệ Bạch Hổ (Tập BI.1) là cát kết trầm tích trong môi trường sông. Các thân cát mỏng và khó xác định đặc trưng của vỉa chứa bởi nhiều vỉa dưới mức độ phân giải theo chiều thẳng đứng của tài liệu địa vật lý giếng khoan. ‒ Đá chứa Oligoxen dưới thành hệ Trà Tân dưới (Tập E) là cát kết trầm tích trong môi trường hồ, sông-bồi tích.
Các thân cát dày hơn của thành hệ BH. HV: PHẠM TUẤN VIỆT 16 MS: 7140885 Đề tài: Phát triển mô hình khai thác cho đối tượng đá chứa dầu nặng Mioxen giữa mỏ Đông Dương bể Cứu Long ‒ Đá chứa móng trước Đệ Tam bao gồm Granít, Granôđiôrít bị phong hóa và biến đổi ở các mức độ khác nhau. Granittoit bị phong hóa có tiềm năng chứa kém bởi vì hàm lượng khoáng vật sét lớn lấp đầy trong các hệ thống nứt nẻ. Đá chứa chính là móng nứt nẻ với các hệ thống độ rỗng và thấm phụ thuộc vào mật độ, sự phân bố, độ mở của nứt nẻ và các yếu tố của hệ thống kiến tạo.Trên mẫu lát mỏng chỉ quan sát thấy số ít độ rỗng thứ sinh và vi khe nứt, tuy nhiên phần lớn đã bị lấp đầy bởi canxít hoặc laumôlít, bởi vậy độ rỗng thứ sinh và độ rỗng vi khe nứt là rất kém.
Chất lượng của đá chứa chủ yếu phụ thuộc vào mức đô nứt nẻ và độ mở của khe nứt.1: Phân chia địa tầng mỏ Đông Dương HV: PHẠM TUẤN VIỆT 17 Đề tài: Phát triển mô hình khai thác cho đối tượng đá chứa dầu nặng Mioxen giữa mỏ Đông Dương bể Cứu Long Hình 1.5: Cột địa tầng của mỏ Đông Dương 2. Trữ lượng dầu tại chỗ mỏ Đông Dương Dầu được chứa trong cát kết trầm tích trong môi trường biển ven bờ, sông dạng xếp chồng theo chiều thẳng đứng bao gồm Mioxen trên (Thành hệ Đồng Nai, Vỉa BIII Sand), Mioxen giữa (Thành hệ Côn Sơn trên, Vỉa BII.30), Mioxen giữa (Thành hệ Côn Sơn dưới, Vỉa BII.10), Mioxen dưới (Thành hệ Bạch Hổ trên, Vỉa BI.30), và móng trước Đệ Tam với khép kín 4 chiều và khép kín đứt gẫy 4 chiều. HV: PHẠM TUẤN VIỆT 18 Đề tài: Phát triển mô hình khai thác cho đối tượng đá chứa dầu nặng Mioxen giữa mỏ Đông Dương bể Cứu Long Gradient của dầu cho đá chứa Mioxen trong việc minh giải áp suất vỉa (MDT/RCI) được dựa trên tài liệu áp suất và mẫu chất lưu thử vỉa (PVT) (0.360psi/ft cho vỉa chứa dầu BII.370 psi/ft cho vỉa chứa dầu BII.20 và BIII Sand). Gradient của nước là 0.
Trữ lượng dầu tại chỗ sau khi cập nhật các giếng khoan phát triển kết hợp với các giếng khoan thăm dò cho đối tượng dầu nặng đang khai thác chính tập vỉa BII.30 được thể hiện trên bảng 1.2: Trữ lượng dầu tại chỗ (OIIP – dầu nặng – heavy oil) mỏ Đông Dương Vỉa chứa Khoảng Cấp trữ lượng Trữ lượng dầu tại chỗ dầu chiều sâu OIIP (triệu thùng) (mSS) P90 P50 P10 BIII Sand 1213 - 1242 Có khả năng (P2) 8,7 9,7 10,8 BII.