chương I, tác giả sẽ trình bày một nghiên cứu tổng quan về các dạng năng lượng tái tạo và hiện trạng khai thác nguồn năng lượng này tại Việt Nam. Tổng quan về các dạng năng lượng tái tạo Năng lượng tái tạo [1,2] là những nguồn năng lượng vô hạn, liên tục, có khả năng tái sinh như: năng lượng mặt trời, gió, mưa, thủy triều, sóng và địa nhiệt. Dạng năng lượng này được coi là vô hạn do hàm chứa hai ý nghĩa: • Năng lượng tồn tại nhiều đến mức mà không thể trở nên cạn kiệt do sự khai thác, sử dụng của con người. Ví dụ: Năng lượng mặt trời, năng lượng gió.
• Năng lượng tự tái sinh trong thời gian ngắn và liên tục trong các quy trình tự nhiên diễn ra trong một thời gian dài trên trái đất. Ví dụ: năng lượng sinh khối.1: Các dạng năng lượng tái tạo [Nguồn www. Năng lượng gió Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí quyển của trái đất. Do trái đất quay quanh mặt trời, bức xạ Mặt Trời chiếu xuống bề mặt Trái Đất không đồng đều làm cho bầu không khí, nước nóng lên không đều nhau gây ra sự chênh lệch nhiệt độ và áp suất tạo thành gió.
Gió là một quá trình địa vật lý rất phức tạp vì vậy chỉ có thể dự báo sự biến đổi với xác suất nhất định. Đặc tính quan trọng nhất đánh giá động năng của gió là vận tốc. Dưới ảnh hưởng của hàng loạt các yếu tố khí tượng và điều kiện về địa hình tốc độ gió thay đổi cả về giá trị và hướng. Để khai thác năng lượng gió người ta sử dụng các tuabin gió đặt tại các nơi có độ cao lớn.
Một hệ thống chuyển đổi năng lượng gió hiện đại bao gồm: Tuabin gió (gồm 2 loại trục ngang và trục đứng), tháp đỡ, hộp truyền động (gear box), máy phát điện, bộ biến đổi công suất, thiết bị truyền tải kết nối lưới điện, hệ thống điều khiển, giám sát và bảo vệ. Việt Nam với đặc điểm địa lý lợi thế, đường bờ biển trải dài hơn 3.000 km và khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, đã được khảo sát và đánh giá có tiềm năng gió lớn trong khu vực. Theo báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tính đến hết 16 ngày 31/10/2021, Việt Nam đã có 88 dự án điện gió hòa lưới với tổng công suất đặt khoảng 4,2 GW; đối với điện gió ngoài khơi, hiện đã có 35 dự án đang nghiên cứu và triển khai với tổng công suất dự kiến lên đến 60 GW.1: Quy hoạch điện gió các vùng dự kiến đến năm 2030 Bảng 1.2: Sản lượng điện gió tăng trưởng qua các năm tại Châu Á [2] Gió là một nguồn năng lượng có khả năng tái tạo và việc sử dụng nó không tạo ra các chất độc hại như nhiên liệu hóa thạch. Đây là một trong những dạng năng lượng mang lại hiệu quả cao nhất, nó có thể trở thành một trong những nguồn năng lượng chính cho các thế hệ tương lai.
Mặc dù năng lượng gió có nhiều ưu điểm, nhưng nó cũng có những hạn chế riêng. 17 - Ưu điểm: Nguồn năng lượng sạch, không gây ô nhiễm môi trường. Tiềm năng lớn, có thể lắp đặt ở mọi nơi đủ gió cần thiết, khu vực lân cận vẫn sử dụng được mục đích khác. Hiệu quả kinh tế, chi phí vận hành thấp, giá lắp đặt đang giảm.
- Nhược điểm: Phụ thuộc vào thời tiết, không có gió hoặc gió không đủ mạnh sẽ không thể khai thác được. Ô nhiễm tiếng ồn, gây khó chịu đến khu dân cư xung quanh. Các tuabin đặt ngoài khơi cần có thuyền phục vụ công tác bảo dưỡng gây mất thời gian và tốn kém. Đe doạ động vật hoang dã, nhiều loài chim, dơi chết do bay vào cánh quạt.
Rủi ro thiên tai, những cơn bão có thể làm thiệt hại đến cánh tuabin, rơi vỡ nguy hiểm đến tính mạng người làm việc quanh khu vực đó. Năng lượng mặt trời Năng lượng mặt trời là một trong các nguồn năng lượng tái tạo quan trọng nhất mà thiên nhiên ban tặng cho hành tinh chúng ta đồng thời nó cũng là nguồn gốc của các nguồn năng lượng tái tạo khác như năng lượng gió, năng lượng sinh khối, năng lượng các dòng sông. Năng lượng mặt trời là năng lượng của dòng bức xạ điện từ xuất phát từ Mặt Trời, cộng với một phần nhỏ năng lượng của các hạt nguyên tử khác phóng ra từ ngôi sao này. Năng lượng mặt trời được phát hiện và biết đến từ rất sớm, tuy nhiên mãi đến thế kỉ XVIII thì chúng mới được ứng dụng vào sản xuất.
Cho đến thời điểm hiện tại, hai ứng dụng chủ yếu năng lượng mặt trời là nhiệt mặt trời và điện mặt trời.2: Hệ thống điện mặt trời 18 Việt Nam có tiềm năng lớn phát triển điện mặt trời: số giờ nắng trung bình của miền Bắc từ 1.700 giờ/năm, cường độ bức xạ mặt trời trung bình 3,69 kWh/m2; khu vực Trung Bộ và Nam Bộ 2.600 giờ/năm, cường độ bức xạ 5,9 kWh/m2. Hiện tại Việt Nam hiện xếp thứ 8 trong top 10 nơi có công suất lắp đặt năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới với 16.504MW, chiếm 2,3% toàn cầu. Công suất trên đầu người của Việt Nam là 60W/người.3: Top 10 quốc gia có sản lượng điện mặt trời lớn nhất [2] Năng lượng mặt trời đã và đang dẫn đầu trong các nguồn năng lượng xanh tổng thể. Có rất nhiều ưu điểm của năng lượng mặt trời như: dễ tiếp cận công chúng, thực hiện trách nhiệm xã hội để giảm lượng khí thải carbon, giúp cắt giảm hóa đơn tiền điện và tiết kiệm tiền, nâng cao khả năng phục hồi và độ tin cậy của cung cấp điện, bảo hành thời gian dài và chi phí bảo trì thấp, không gây tiếng ồn.
Bên cạnh nhiều ưu điểm nổi bật như trên thì năng lượng mặt trời cũng tồn tại các nhược điểm cơ bản. Chi phí đầu tư ban đầu còn tương đối cao, bị ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết, không có hiệu quả với các nước có ít ánh nắng, ban đêm không thể sản xuất ra điện. Bụi bẩn, cây cối, tòa nhà cao tầng che chắn cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình thu năng lượng. Dù sao thì những nhược điểm trên cũng không đáng kể so với phần ưu lợi thế để phát triển mạnh mẽ.
Năng lượng sinh khối Sinh khối bao gồm cây cối tự nhiên, cây trồng công nghiệp, tảo và các loài thực vật khác, hoặc là những bã nông nghiệp và lâm nghiệp. Sinh khối cũng bao gồm cả những vật chất được xem như chất thải từ xã hội con người như chất thải từ quá trình sản xuất thức ăn nước uống, bùn từ các hệ thống xử lý nước thải, phân 19 bón, sản phẩm phụ gia (hữu cơ) trong công nghiệp và các thành phần hữu cơ của chất thải sinh hoạt. Từ các nguồn sinh khối được chuyển thành các dạng năng lượng khác như: điện năng, nhiệt năng, hơi nước và nhiên liệu thông qua các phương pháp chuyển hóa như đốt trực tiếp và turbin hơi, phân hủy kị khí, khí hóa và nhiệt phân… Các dạng năng lượng này gọi là năng lượng sinh khối (NLSK). Năng lượng sinh khối được xem là tái tạo vì nó được bổ sung nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ bổ sung của năng lượng hóa thạch vốn đòi hỏi hàng triệu năm.
Năng lượng sinh khối có thể giảm thiểu sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch đắt đỏ và đang dần cạn kiệt. Không phụ thuộc vào xăng dầu tăng cường an ninh quốc gia. Công nghệ sản xuất NLSK không quá phức tạp có thể sản xuất ở quy mô nhỏ (hộ gia đình) đến quy mô lớn. Nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp.
Kích thích thu hoạch nhiên liệu đầu vào tạo ra nhiều cơ hội việc làm tăng thu nhập cho người nông dân. Sử dụng NLSK so với xăng dầu giảm khoảng được 70% khí CO2 và 30% khí độc hại, do NLSK chứa một lượng cực nhỏ lưu huỳnh, chứa 11% oxy, nên cháy sạch hơn. Năng lượng sinh khối phân hủy sinh học nhanh, ít gây ô nhiễm nguồn nước và đất. Nhược điểm của năng lượng sinh khối là chi phí sản xuất cao nên giá thành điện cao.
Chi phí đầu tư cao và hiệu quả có thể không bằng các nguồn năng lượng khác. Tiềm năng NLSK của Việt Nam vô cùng phong phú, trữ lượng lớn. Cụ thể: Tiềm năng sinh khối từ gỗ củi vào khoảng 10,6 triệu tấn dầu quy đổi năm 2010, 14,6 triệu tấn vào năm 2030 và 14 triệu tấn vào năm 2050; phế thải từ nông nghiệp vào khoảng 16,8 triệu tấn năm 2010, 20,6 triệu tấn vào năm 2030 và 26,3 triệu tấn vào năm 2050; từ rác thải đô thị vào khoảng 0,64 triệu tấn vào năm 2010, 1,5 triệu tấn vào năm 2030 và 2,5 triệu tấn vào năm 2050… Việc phát triển được năng NLSK sẽ không chỉ giúp tận dụng được kho dự trữ sinh học vô cùng phong phú của Việt Nam mà còn tăng trưởng kinh tế, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường. Năng lượng thủy điện Thủy điện là nguồn điện có được từ năng lượng nước.
Đa số năng lượng thủy điện có được từ thế năng của nước được tích tại các đập nước làm quay một tua bin 20 nước và máy phát điện. Kiểu ít được biết đến hơn là sử dụng năng lượng động lực của nước hay các nguồn nước không bị tích bằng các đập nước như năng lượng thuỷ triều. Thủy điện là nguồn năng lượng có thể hồi phục. Sử dụng nước tự nhiên để phát điện nên giá thành điện năng thủy điện rẻ hơn so với nhiệt điện (10 – 20%) đây là lợi thế lớn nhất của thủy điện.
Hiệu suất của nhà máy thủy điện cũng cao hơn nhà máy nhiệt điện. Không gây ô nhiễm môi trường do không phát thải khí. Có khả năng trị thủy tích nước vào mùa lũ để hạn chế nước xuống hạ lưu. Cho phép phát điện mức thấp vào giờ thấp điểm để tích nước phát điện vào giờ cao điểm.
Các đập đa dụng được lắp đặt để phục vụ tốt cho tưới tiêu nuôi trồng thủy sản. Thuận tiện cho giao thông đường thủy vì dòng chảy ổn định hơn. Những hồ chứa trở thành điểm thu hút khách du lịch. Nhược điểm của thủy điện là thời gian xây dựng nhà máy lâu, vốn đầu tư tương đối lớn.
Để làm hồ trữ nước lớn cần phải di dân, xây dựng khu tái định cư, trồng lại rừng. Phá hủy hệ sinh thái vốn có ảnh hưởng đến môi trường sống, sự phát triển của sinh vật tự nhiên. Những vụ xả lũ bất ngờ có thể cuốn trôi hoa màu, tàn phá nhà cửa và cướp đi sinh mạng nhiều người. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có lượng mưa trung bình hàng năm cao, khoảng 1.