CHƯƠNG 1: GIỚI THIEU CHUNG VE DOI TƯỢNG NGHIÊN CUU: DIA CHAT, DIA VAT LY CUA MO X. CHUONG 2: CO SO LY THUYET VE MANG NO RON NHAN TAO VA THUỘC TINH DIA CHAN. CHUONG 3: XÂY DUNG MÔ HINH TUONG THACH HOC TỪ PHAN TÍCH THUOC TINH DIA CHAN BANG GIAI THUAT LUYEN MANG CO GIAM SAT. 20 CHUONG 4: XÂY DUNG MÔ HINH ĐỘ RONG DỰA VÀO TUONG THACH HỌC, LOG ĐỘ RONG VÀ PHƯƠNG PHÁP LUYEN MẠNG CÓ GIÁM SÁT KET LUẬN VÀ KIEN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO 21 CHUONG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VE DOI TƯỢNG NGHIÊN CUU: DIA CHAT, DIA VAT LY CUA MO X 1.
Vi tri địa lý khu vực: Khu vực nghiên cứu thuộc Lô 46/02 bổn trũng Malay- Thổ Chu, ngoài khơi Việt Nam, cách bờ biến Vũng Tàu khoảng 490km về hướng Tây Nam, cách thị tran Năm Căn, Cà Mau khoảng 206km hướng Tây Nam (Hình 6). K HO CHI MINH CITY 22 1. Tổng quan Địa chất khu vực: 1. Kiến tạo: IPLEH-Rei = ễ ra = E 2 |8 3|* : : § 5 m5 D Ÿ 2 Ễ bh UPLIFT& EROSION £ E TH:mm = | {ROTATION aE5 4 E g 2 | =a E| - l :ễ & E3 ! ey) |— mm E = E exrension-> có Fy 4 Ẹ |__| “Hard” colission 8 | £8 ~ ~ Major strike-slip fau | +4 dip-slip fault \ i H “Soft* colllasion 1 Hình 7: Bản do kiến tạo Lô 46/02 bon triing Malay-Thé Chu Co 3 thanh tao chinh thoi ky dé tam nam ngoài khơi vịnh Thai Lan là Pattani Trough, Khmer Trough và bổn trũng Malay (Hình 7).
Nguồn gốc của các thành tạo này có liên quan đến các hoạt động kiến tạo mảng Palaeogene. Pattani Trough: chủ yếu năm ở vùng biến Thái Lan. Đó là một cau trúc phát triển theo hướng Bắc-Nam, dài 300 km và rộng 100 km, sâu tới 8 km lấp đây bởi trầm tích thời kỳ Dé tam. Sản phẩm của bổn trũng chủ yếu là gas va subsidiary oil, với nhiều mỏ sản phẩm nam trong tập cát kết Miocene.
Phía nam và phía đông của Pattani Trough và Khmer Trough, xu hướng cau trúc tang Dé tam thay đổi theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, và sự mở rộng của Narathiwat High ở phía bac chia cắt Pattani Trough từ sự kết hợp giữa Khmer và bổn triing Malay. ¢ Khmer Trough: là một thành tạo bi rang nứt nửa phía bắc hướng Bắc-Nam kết hợp với phần mở rộng phía bắc của bổn trũng Malay. Nửa này dài 150 km và rộng 60 km. Nó bị giới hạn ở phía đông bởi một đút gay giới hạn phía tây và được ngăn cách với thành tạo Pattani ở Vịnh Thái Lan bởi Sườn Khmer.
Các trầm tích đệ tam trong thành tạo Khmer dày tới 8 km. Trữ lượng khí thu hồi được ước tính trong thành tạo Khmer đến từ các cụm mỏ nhỏ và lên tới 4-5 TCF trên diện tích của Chevron. Chúng bao gồm các phần phía tây và phía đông của Chevron trong Lô 48/95; và phần mở rộng của phía đông Lô 46/02. 23 Bồn trũng Malay: dài 500 km và rộng 200 km, với ria phía tây nam dốc và hon 8 km lấp day trầm tích Dé tam.
Hau hết các mỏ dau đang khai thác tại Malaysia năm ở phía nam Bồn trũng Malay trong via cát kết thuộc Ologocense trên và Miocene. Phía bac Bồn trũng Malay chứa chủ yếu là gas, khai thác hiện tại chỉ từ mỏ Bongkot, là mỏ khí lớn nhất ở Vịnh Thái Lan với trữ lượng thu hồi ước tính là 5,6 TCFGE (800 MMBOE) (PetroConsultants, 2000). Dầu được tìm thay ở Malaysia Lô PM-8, PM-5 và PM-3 CAA cùng quản lý, và ở Việt Nam là Lồ 46/Cai Nuoc và 46/02, xác nhận sự tỒn tại của một “vành đai dau’ quanh bồn trũng Malay. Dau hiện đang được khai thác 6 mức> 50.000 bopd từ các mỏ trong PM-3 CAA, chỉ cách L6 46/02 15km.
Khu vực phía bắc Bồn trũng Malay phát triển nội mang Sunda do sự va cham của Ấn Độ với Eurasia bắt đầu từ 46 triệu năm trước. Vụ va chạm này đã đây các khối vỏ của khối Sunda về phía đông nam dọc theo các đứt gãy lớn như: Hệ thong đứt gãy sông Hồng, Hệ thống đứt gay Mai Ping (Wang Chao) và Hệ thống đứt gay Three Pagodas. Các bồn trũng vịnh Thái Lan là kết quả của việc mở rộng theo hướng xiên vào các đứt gãy trượt nay, và do đó chúng có thé được coi là các Bồn trũng “trans-tenstional°, hoặc ‘pull-apart’. Bồn trũng lớn nhất là bồn tring Malay, là kết quả của sự chuyển giao nén ép lớn dọc theo Hệ thống đứt gãy Three Pagodas.
Dirt gãy Three Pagodas hướng tây bắc kéo dài hơn về phía đông nam, nơi nó tiếp tục là đứt gay năm dọc theo chiều dài của lưu vực Malay. Lịch sử trầm tích kiến tao của Bắc bổn trũng Malay bao gồm bốn giai đoạn: - Mở rộng về phía đông-tây: từ Eocene đến giữa Oligocene với trượt dextral doc theo hệ thong đứt gay Three Pagodas tạo ra một nửa phía bắc-nam chứa day các khối uplift và bất chỉnh hợp góc lớn. ‹ Điều này được theo sau bởi sự mở rộng nhanh chóng và xoay vòng trượt: với độ võng thụ động trong Oligocen muộn và Miocen sớm đến giữa. ¢ Một thời kỳ nén: vào cuối Miocen giữa gây ra sự đảo ngược và xói mòn thời kỳ Miocene giữa, các hiệu ứng đảo ngược này về cơ bản không có ở Lưu vực Bắc Malay và Khối 46/02, bat chỉnh hop Miocene giữa [MMU].
¢ Thời gian thu động kéo dai: bat dau từ cuối Miocene và tiếp tục cho đến ngày nay. Sự lắng đọng trên bién tiếp tục như chuyên động đứt gay không liên tục. Các đứt gấy lớn đang hoạt động lên đến đáy biên. Phân chia khu vực: Khu vực Lô 46/02 năm ở rìa phía đông bắc của lưu vực Malay, tại điểm hội tụ giữa cau trúc hước Bac-Nam của các lưu vực kiều Khmer Trough và xu hướng TB-DN của Bồn trũng Malay.
Ba khu vực dự án phân chia đã được xác định chủ yếu bởi các hướng cau trúc là Minh Hai Gas, SRKP Development va Southern Oil Play Trong đó khu vực SRKP chứa khối đứt gấy nghiêng Sông Đốc DB-TN. Cau trúc này có một lịch sử phức tạp và bất chỉnh hợp còn sót lại cho thấy sự nâng cao Eocene trước và sự nâng cao Oligocene trước có thể được thấy được trong khu vực. Trong đó Tang móng là đá thạch anh quatzite (vi dụ, xung quanh KM-1), địa chan tang móng rat phăng và sáng. Cũng như các đứt gay lớn, đã có sự tái hoạt động đáng kế của đứt gãy tại các thời điểm khác nhau.
Các vỉa cát riêng lẻ được nhìn thấy khác nhau: ¢ Song song với đứt gay (I-090 tây bac Sông Đốc) ¢ Giao nhau giữa các đút ấy (I-023 tại Thới Bình, I-060/069 tại Sông Trém) ¢ Day đặc (I-060 tai Nam Can) ¢ Hoan toàn bo qua sự hiện diện đứt gấy(I-010 tại Rạch Tàu, I-115 tai Sông Đốc) Các bẫy cau trúc đã được chứng minh là ton tại. Sự thành tạo bồn trũng và địa tầng: Có hai giai đoạn địa tầng chính anh hưởng đến phân bồ của các tướng đá trong bồn trũng Malay. Giai đoạn hiệu ứng dài ảnh hưởng đến sự phân bồ tướng đá được hình thành bởi sự thành tạo cấu trúc của bồn trũng. Giai đoạn thứ hai liên quan đến các tần số cao, hiệu ứng eustatic.
Các giai đoạn trầm tích bổn tring Malay được phân loại phố biến nhất bằng cách sử dụng sơ đồ địa tầng dạng số EPMI. Mỗi giai đoạn chính được gọi là “Group” được định danh băng một chữ cái từ M đến A. M đại diện cho các giai đoạn hình thành Eocene. Xa hơn về phía nam, ở trung tâm của bon tring, L là Paleogen — U là Mesozoi (2).
Trong mỗi giai đoạn, các mặt địa chân riêng lẻ được định danh băng một số: thường là bội số của x10 (ví dụ: I-010). Các tập được phân ra như sau: M—L: Eocene đến M. Oligocene K - Lower J: Oligocene trên đến Miocene dưới J: Miocene dưới 25 [- H va F: Miocene dưới-Miocene giữa — dưới E: Miocene giữa - trên B và A: Miocene trên-Pleistocene 1. Địa tầng: GROUP ¬ TECTONIC Ma | GEOLOGIC TIME |~STACKING TRANG.
-+ EPMI IPC 2 | LITHOLOGY/FACIES | ,SSMIC SYSTEM TRACTS | HISTORY SOO RE |RESERVOIRS| (v Sears, wd ˆ | [ge] HOLOCENE 8 | PLEISTOCENE FA UPPER E = g 3 3i | Lower ad 5+ a <= A&B Ẹ = = | & ~ id a z l= | 52 | 8& 10+ “lễ fs) w z|2 wis Ols| 3 F-010 jw 9 =| ¢ E LATE zo z 15- z ai H-010 POST - RIFT a =o = 1-010 3 S§ UPPER 2 1-060 = hod Oy ' | Lower 2 = 3 x > x 201N|E Old = wi z 5 : = mị #o RE N = UPPER = J-090 ziữ 5 = “am a er WwPs) = J LOWER a 5og& Fal xí K-tsh EARLY 4 POST - FIFT 25-4 œ „| # K ñ| 3 hị al ¢ BUO l 30+ ie} Š 2. Ww = ie ar = L-M RIFT CLIMAX i fa O jw Sec as z1 ° 5 2 ———¬->~-- a oa -—~———-~-F 400- o RIFT INITIATION 2S. S 9 mị le) NSO PRE - RIFT < ire =a% > =i FLUVIAL AND ESTUARINE SANDS | COASTAL PLAIN AND OFFSHORE SHALES mg COALS (*) experienced In the Central & Southern Malay Basin MARINE AND DELTA FRONT SANDS LACUSTRINE SHALES ALLUVIAL FAN/ALUVIAL PLAIN SEDIMENTS Hình 8: Cột địa tang tổng hợp Lô 46/02 bon triing Malay-Thổ Chu 13. — Hệ thống dau khí: 1.
Đá mẹ và sự trướng thành: Các đá mẹ tiềm năng xung quanh Lô 46/02 có thể bao gồm trầm tích chứa hữu cơ phong phú và trầm tích châu thổ, đá phiến carbon và than. Một nghiên cứu về đánh giá môi trường bảo tôn của hydrocarbon, do tiễn sĩ R. Burwood thực hiện đã kết luận rằng: Các phân tích thành phan của dau thô đã tiết lộ ít nhất ba họ dầu cùng nguồn gốc được hình thành do quá trình di cư. Các phân tích khí đốt tự nhiên có dấu hiệu cho thay nguồn gốc chủ yếu tách từ dau xuất phát từ các nguồn dâu ban đầu.
Các trường hợp khí đốt nguồn gốc than cũng được tìm thấy. Nghiên cứu hệ thống các thành tạo Oligo-Miocene mang lại nhiều dau hiệu cho thay đá mẹ có nguồn gôc tram tích cơ học giàu hữu cơ và than dâu. 26 Có 3 họ dầu đó được gọi là “high wax”, “medium wax” và “low wax”. Sự tương 35 66 quan giữa đá mẹ va dau cho thay đá mẹ của 3 ho dau trên lần lượt là: Lacustrine “K” shale: đá mẹ cho loại high wax The Miocene fluvial-deltaic: đại diện cho tap I, H, F.
Da phién than va carbonate có xu hướng mạnh cho loại medium wax. The early Miocene lacustrine-paralic: đại diện cho tập K và J. Tram tich giau hữu cơ được cho là da mẹ của loại low wax.