mở đầu cho sự xâm nhập và thiết lập vững chắc chỗ đứng của người Turk tại Anatolia. Biến động thứ hai diễn ra vào năm 1204, khi quân đội Thập Tự chinh cướp bóc Constantinople và gây ra sự sụp đổ 2 Đế chế La Mã của Constantinople (330-1453), thường được gọi với những cái tên khác nhau như Đế chế Đông La Mã (Eastern Roman Empire), Đế chế Byzantine (Byzantine Empire), Byzantium (Byzantium Empire) hay Đế chế Hy Lạp thời Trung Đại (Medieval Greek Empire). Mặc dù cái tên “Byzantine” được sử dụng một cách rộng rãi trong các tài liệu phương Tây, nhưng trong Luận văn này, chúng tôi sử dụng cái tên “Đế chế Đông La Mã” nhằm nhấn mạnh tính độc nhất và liên tục của đế chế này sau năm 476. 3 Seljuk Turk là một nhóm người Turk thuộc nhánh Oghuz.
Sự xuất hiện của người Seljuk về phía Tây trùng lặp với sự đổ vỡ của các chính quyền quan liêu tại Tây Á trước các biến động về khí hậu. Người Seljuk đã thành công trong việc thiết lập đế chế của mình tại Trung Cận Đông, với đế chế Seljuk (1037-1194) và Hồi quốc Rum (1077-1308). 15 z nhất thời cho đế chế Đông La Mã. 1-38] Biến động thứ ba là trận Kösedağ (1243), với việc quân Mông Cổ đánh bại người Seljuk và khiến nhiều bộ lạc Turk phải tháo chạy về phía Tây.
Sự đổ vỡ của chế độ Seljuk sau năm 1256 cũng như sự suy sụp không thể gượng dậy của Đông La Mã bởi sự biến năm 1204, đã đẩy Anatolia rơi vào tình trạng chia rẽ và chiến loạn trong gần hai trăm năm, trước khi người Ottoman thống nhất hoàn toàn Anatolia vào nửa sau thế kỷ XV. Như một hệ quả cho việc biến mất của những nhà nước tập quyền mạnh, các thế lực địa phương tại khu vực biên giới La Mã-Seljuk trước đây đã trở thành những tiểu quốc độc lập từ sau năm 1260. Những tiểu quốc này - thường được gọi là các beylik trong tiếng Turk hay amirat trong tiếng Ả Rập - phần lớn được thành lập bởi các bộ lạc Turk chạy trốn người Mông Cổ. Sự xuất hiện của người Mông Cổ, và người Seljuk trước đó đã du nhập một mô hình nhà nước mà các sử gia gọi là ‘nhà nước bảo trợ quân sự’ (military patronage state) vào khu vực Trung Cận Đông.
Marshall Hodgson đã định nghĩa mô hình nhà nước này thông qua ba đặc điểm cốt lõi nhất: “Đầu tiên, luật pháp của triều đại cai trị được hợp pháp hóa một cách độc lập; thứ hai, khái niệm nhà nước đồng nghĩa với khái niệm quân đội; thứ ba, tất cả nguồn lực kinh tế và văn hóa đều thuộc sở hữu riêng của các gia đình quân nhân quan trọng. 405-406] Vấn đề của mô hình nhà nước phong kiến quân sự như vậy nằm ở việc nó không thể duy trì sự thống nhất trong thời gian dài, và mọi chính thể áp dụng mô hình này đều tan vỡ chỉ sau một hai thế hệ đầu tiên. 25] Trong số tất cả các nhà nước bảo trợ quân sự được hình thành sau năm 1250 đến trước năm 1500, ngoại trừ người Ottoman ra, chỉ có duy nhất đế chế Mamluk4 (1250-1517) là trường hợp ngoại lệ. [139] Tại Anatolia, các beylik (hầu quốc) cũng không tránh được định mệnh này.
Như đã nói; các hầu quốc này được hình thành dựa trên cơ sở sự đổ vỡ của chế độ Seljuk, việc bỏ ngỏ vùng biên của Đông La Mã cũng như việc triệt thoái của người Mông 4 Đế chế Mamluk (1250-1517) là thế lực nổi bật nhất của Hồi giáo sau sự biến năm 1258. Người Mamluk đã giữ vị trí là nhà nước hùng mạnh nhất theo đạo Hồi với hàng loạt các chiến thắng chống lại Thập Tự chinh và cả đế chế Mông Cổ. Các Mamluk là những nô lệ quân sự được giải phóng, và họ theo một chế độ bầu Sultan khi một Sultan qua đời. Cho đến khi người Ottoman nổi lên, hầu như không có một thế lực nào có thể uy hiếp được họ ở Đông Địa Trung Hải.
16 z Cổ, với hai đặc điểm chung cơ bản nhất. Thứ nhất, chúng tồn tại nhằm phục vụ cho một tôn chỉ xuyên suốt: đột kích vào lãnh thổ Kitô giáo để cướp bóc của cải và bắt giữ nô lệ. 76-78] Thứ hai, xu hướng phân quyền là xu hướng chủ đạo với các hầu quốc này, như nhằm đảm bảo một sự cân bằng quyền lực và không cho phép một hầu quốc nào có thể phát triển nổi trội. Nhìn chung, có hai loại hình hầu quốc đã tồn tại ở Anatolia trong giai đoạn sau năm 1260, chủ yếu được phân biệt thông qua vị trí địa lý của chúng: duyên hải hay nội địa.
Hầu quốc duyên hải (coastal beylik) là những hầu quốc được hình thành dọc theo vùng duyên hải của Anatolia kéo dài từ Hắc Hải đến Biển Aegean. Nhìn chung, các nhà nước ven biển này chia sẻ bốn đặc trưng cơ bản nhất. Thứ nhất, các amir/bey (thủ lĩnh quân sự) hướng sự chú ý về phía biển nhiều hơn là phía đất liền. Thứ hai, nền kinh tế của họ dựa chủ yếu vào thương mại và hải tặc hơn là chinh phục đất đai, nhờ vào việc sở hữu yếu nhiều sức mạnh biển.
Thứ ba, hầu hết các thế lực này đều có ít nhiều liên hệ với các biến động tại Balkan - chủ yếu trong vai trò lính đánh thuê - nhưng không thiết lập được sự hiện diện một cách liên tục bên kia châu Âu. Cuối cùng, các hầu quốc ven biển đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chuyển giao thương mại giữa vùng nội địa Anatolia với thương nhân châu Âu. Trong khi đó, hầu quốc nội địa (mainland beylik) nổi lên như những thế lực lớn và phát triển sau sự sụp đổ của chế độ Seljuk. Yếu tố địa lý đã quyết định sự khác biệt của những hầu quốc trong đất liền so với những láng giềng của chúng ở vùng ven biển.
Các dấu ấn Hồi giáo và Mông Cổ được kế thừa nhiều hơn tại đây, trong khi các hầu quốc vùng biển kế thừa nhiều hơn các dấu ấn Đông La Mã. Thương mại và chăn nuôi gia súc là hai hoạt động kinh tế chủ đạo của những hầu quốc trong đất liền, bên cạnh hoạt động cướp bóc lãnh thổ Kitô giáo. Sau khi người Mông Cổ rút lui khỏi Anatolia, hầu quốc Karaman5 (Konya, Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) đã trở thành thế lực 5 Hầu quốc Karaman (1250-1487) là hầu quốc nổi bất nhất ở vùng nội địa cao nguyên Anatolia. Trong hai thế kỷ, người Karaman luôn đóng vai trò là đích thủ đáng gờm nhất của người Ottoman tại miền Đông Anatolia.
Người Karaman chỉ chịu thất bại trước người Ottoman từ năm 1440 trở đi, dù sự kháng cự của họ vẫn còn tiếp tục cho đến năm 1487. 17 z chiếm ưu thế tại trung tâm Tiểu Á. Tuy nhiên, ngay cả Karaman cũng không thể ngăn được sự bành trướng của người Ottoman từ nửa cuối thế kỷ XIV trở đi. Sự phân chia quyền lực sau mỗi thế hệ, việc không đủ các nguồn lực để tập trung sức mạnh hay loại bỏ hoàn toàn đối thủ của mình đã làm giảm khả năng mở rộng lãnh thổ của các hầu quốc tại Anatolia.
Đồng thời hệ quả từ di sản Mông Cổ và Seljuk về một nhà nước bảo trợ quân sự và chính thể du mục đã không cho phép công nghệ quân sự của những tiểu quốc này làm nhiều hơn việc duy trì các cuộc đột kích cướp bóc dọc theo biên giới thay vì cố chinh phục thêm đất đai. Kết quả là như nhiều người đương thời đã nhận xét, người Turk tràn đến cướp bóc, bắt giữ nô lệ rồi rút lui và không tỏ ra quan tâm đến đất đai. 58] Công nghệ quân sự vẫn tiếp tục là trưng tập các binh lính tự do rồi tổ chức các cuộc đột kích tích lũy chiến lợi phẩm hơn là chiếm giữ đất đai. Không gian của người Turk bị bó hẹp tại Anatolia, nơi đã cho thấy khả năng dễ dàng bị đánh bại khi đối mặt với những đối thủ thực sự.
Khi mà Đông La Mã bị trục xuất khỏi Tây Anatolia về Balkan và việc cướp bóc trên đất liền không còn mang lại lợi ích như trước, người Turk buộc phải chuyển sang cướp bóc trên biển. Điều này không kéo dài được lâu, năm 1344, các hiệp sĩ St. John6 với sự trợ giúp của Venice đã đánh chiếm Smyrna và giết chết Umur Bey7 - một trong những bey nổi bật nhất. Từ lúc này, không gian của các beylik bị bó buộc tại Anatolia và mọi khả năng tiếp cận đến châu Âu đã bị chặn lại.
58] Ngược lại, duy nhất chỉ Ottoman mới có thể mở rộng qua châu Âu thông qua việc chinh phục bán đảo Gallipoli vào năm 1354, thiết lập một đầu cầu nối cho việc mở rộng không gian sinh tồn của họ - điều đã mang đến thành công của người Ottoman chỉ trong vòng chưa đầy bốn thập niên tiếp theo. John là một dòng hiệp sĩ Thập Tự Chinh được thành lập năm 1070. Sau khi các lãnh địa cuối cùng của người Latin tại Levant thất thủ năm 1291, nhóm hiệp sĩ St. John dời bản doanh của mình về Rhodes và Malta.
Tại đây, họ đóng vai trò như những thế lực bảo vệ người Kitô giáo trước sự tấn công của người Hồi giáo, cũng như sẵn sàng tấn công tàu thuyền Hồi giáo khi có cơ hội. 7 Umur Bey là một thủ lĩnh quân sự người Turk và chủ nhân của hầu quốc Aydin với thủ phủ đặt tại Smyrna. Việc Umur tăng cường các hoạt động đột kích vào tàu buôn Kitô giáo đã dẫn đến một liên minh Thập Tự chinh quy mô nhỏ tấn công và đánh chiếm Smyrna. Umur bị giết trong cuộc chiến khi đang cố tái chiếm lại thành phố từ tay quân Thập Tự.
Người Kitô giáo sẽ tiếp tục giữ Smyrna cho đến năm 1402, trước khi để mất vào tay người Hồi giáo. 8 Halil Inalcik đã chỉ ra bốn giai đoạn phát triển của quá trình bành trướng mà người Turk đã tiến hành: (1) cướp bóc theo mùa vào đồng bằng ven biển La Mã (2) được tổ chức bởi các bey trên nền tảng bộ lạc hoặc lính đánh thuê (3) các lãnh đạo thành công xuất hiện với khả năng thiết lập các mối liên hệ xã hội ở những vùng 18 z 1. Sự nổi lên của người Ottoman, 1299-1453 Cho đến hiện nay, nguồn gốc của người Ottoman vẫn còn nhiều tranh cãi. Phần lớn ghi chép và viện dẫn về nguồn gốc của họ đều được các sử gia Ottoman biên soạn và sáng tạo ra trong giai đoạn sau, nhằm củng cố tính chính danh và lợi ích của vương triều.
Tuy nhiên, một điều có thể chắc chắn rằng tổ tiên của người Ottoman đã di chuyển vào Anatolia trong thế kỷ XIII, ngay sau những đợt tấn công của quân Mông Cổ những năm 1240 và 1250.