CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (Research and Development R&D) và tăng trưởng kinh tế đã được nghiên cứu bởi rất nhiều nhà kinh tế khác nhau. Chương này trình bày một số nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài, từ đó rút ra những đóng góp cũng như những tồn tại của các nghiên cứu này và đề xuất hướng nghiên cứu mới của luận án. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 1. Mô hình tăng trưởng của Solow [81] Solow là một trong những nhà kinh tế đầu tiên đã đưa ra những mô hình nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế.
Ông là nhà kinh tế học thuộc trường phái Tân cổ điển, những mô hình kinh tế mà ông đưa ra được xem là những mô hình tăng trưởng điển hình của trường phái Tân cổ điển (Neoclassical Growth Model). Sau đây là một số đặc điểm về mô hình của Solow: - Mô hình tăng trưởng của Solow là mô hình về sự tích lũy vốn trong nền kinh tế đóng: không có chính phủ, không có chính sách thuế hay các khoản trợ cấp, không có thương mại, không có tiền tệ và vì vậy cũng không có thị trường tài chính. - Ông giả định trong mô hình của mình là người lao động luôn sử dụng một tỷ lệ cố định trong thu nhập của mình cho tiết kiệm và tiêu dùng. Ngoài ra dân số tăng trưởng với một tỷ lệ nhất định, do vậy mô hình mà ông đưa ra còn được gọi là mô hình Blue Lagoon.
- Nền kinh tế gồm những người tiêu dùng và các doanh nghiệp. Tất cả những người tiêu dùng đều sở hữu doanh nghiệp sản xuất riêng, và chủ doanh nghiệp sở hữu toàn bộ doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong mô hình của Solow, s là tỷ lệ tiết kiệm, n là tốc độ tăng dân số, i là tỷ lệ đầu tư, c là tỷ lệ tiêu dùng, d là tỷ lệ khấu hao, L là lực lực lượng lao động, K là lượng tư bản, A là trình độ khoa học công nghệ. Ông đã xây dựng mối quan hệ giữa các tham số trong mô hình như sau: Công thức xác định tăng dân số như sau: 𝐿𝐿 −𝐿𝐿𝑡𝑡 𝑛𝑛 = %∆𝐿𝐿𝑡𝑡+1 = 𝑡𝑡+1 → 𝐿𝐿 = (1 + 𝑛𝑛)𝐿𝐿𝑡𝑡 (1-1) 𝐿𝐿𝑡𝑡 Hàm sản xuất của các doanh nghiệp là hàm sản xuất Cobb-Doublas 𝑌𝑌𝑡𝑡 = 𝐴𝐴𝐾𝐾𝑡𝑡𝛼𝛼 𝐿𝐿1−𝛼𝛼 𝑡𝑡 (1-2) 𝑌𝑌 𝐾𝐾𝛼𝛼 𝐿𝐿1−𝛼𝛼 Do vậy thu nhập và đầu tư đầu người lần lượt là: 𝑡𝑡 = 𝐴𝐴 𝑡𝑡 𝑡𝑡 ℎ𝑎𝑎𝑎𝑎 𝑦𝑦𝑡𝑡 = 𝐴𝐴𝑘𝑘𝑡𝑡𝛼𝛼 𝐿𝐿𝑡𝑡 𝐿𝐿𝑡𝑡 1 1−𝑑𝑑 𝑠𝑠𝑠𝑠 𝑘𝑘𝑡𝑡 = � � 𝑘𝑘𝑡𝑡 + 𝑘𝑘𝑡𝑡𝛼𝛼 1+𝑛𝑛 1+𝑛𝑛 Ở trạng thái cân bằng của nền kinh tế, các tham số được xác định là: �1−𝛼𝛼 1 ∗ 𝑠𝑠𝑠𝑠 𝑘𝑘 = � � 𝑛𝑛 + 𝑑𝑑 𝛼𝛼� 𝑠𝑠𝑠𝑠 1−𝛼𝛼 𝑦𝑦 ∗ = 𝐴𝐴(𝑘𝑘 ∗ )𝛼𝛼 = 𝐴𝐴 � � 𝑛𝑛+𝑑𝑑 �1−𝛼𝛼 𝛼𝛼 ∗ ∗ ∗ 𝑠𝑠𝑠𝑠 𝑖𝑖 = 𝑠𝑠 = 𝑠𝑠𝑦𝑦 = 𝑠𝑠𝑠𝑠 � � 𝑛𝑛 + 𝑑𝑑 �1−𝛼𝛼 𝛼𝛼 ∗ ∗ 𝑠𝑠𝑠𝑠 𝑐𝑐 = (1 − 𝑠𝑠)𝑦𝑦 = (1 − 𝑠𝑠) � � 𝑛𝑛 + 𝑑𝑑 Một số kết luận được rút ra từ mô hình kinh tế của Solow như sau: Thứ nhất: Tích lũy vốn của nền kinh tế tính theo giá trị tuyệt đối là dương, tức là năm sau cao hơn năm trước, tuy nhiên tính theo giá trị tương đối thì nó giảm dần và tiến đến không trong dài hạn.
Từ đó, tăng trưởng của nền kinh tế là dương, tuy nhiên tốc độ tăng cũng giảm dần do tốc độ giảm dần của tích lũy vốn trong nền kinh tế, lý do là 𝑘𝑘𝑡𝑡+1 −𝑘𝑘𝑡𝑡 𝑛𝑛+𝑑𝑑 𝑠𝑠𝑠𝑠 1 g = %∆𝑘𝑘𝑡𝑡+1 = = −� �+ (1-3) 𝑘𝑘𝑡𝑡 1+𝑛𝑛 1+𝑛𝑛 𝑘𝑘𝑡𝑡1−𝛼𝛼 1� 𝑠𝑠𝑠𝑠 1−𝛼𝛼 Vì � � > 𝑘𝑘𝑡𝑡 nên %∆𝑘𝑘𝑡𝑡+1 > 0. Vì vậy, Solow đã nhận định rằng tốc độ tăng 𝑛𝑛+𝑑𝑑 trưởng của nền kinh tế là luôn dương. Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa %∆𝑘𝑘𝑡𝑡+1 và 𝑘𝑘𝑡𝑡 , việc tính đạo hàm biểu thức (1-3) theo 𝑘𝑘𝑡𝑡 thu được kết quả sau: 𝑑𝑑%∆𝑘𝑘𝑡𝑡+1 1−𝛼𝛼 = − 2−𝛼𝛼 (1-4) 𝑑𝑑𝑘𝑘𝑡𝑡 𝑘𝑘 Tuy nhiên, biểu thức (1-4) đã chứng minh cho kết luận của Solow rằng tích lũy vốn trong nền kinh tế tăng theo giá trị tuyệt đối, nhưng giảm dần theo giá trị tương đối, và sẽ tiến đến không trong dài hạn. Thứ 2: Mô hình đã đưa ra dự báo về những nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế như sau: - Tốc độ tăng dân số (n): Hai quốc gia có các điều kiện còn lại là giống nhau, ngoại trừ tốc độ tăng dân số là khác nhau, quốc gia nào có tốc độ tăng dân số cao hơn dẫn đến tốc độ tăng của tích lũy vốn chậm hơn và tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn.
2 - Tỷ lệ tiết kiệm (s): Hai quốc gia có các điều kiện còn lại là giống nhau, ngoại trừ tỷ lệ tiết kiệm khác nhau, quốc gia nào có tỷ lệ tiết kiệm lớn hơn sẽ có tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn hơn. - Sự phát triển của khoa học công nghệ: Ông chỉ ra rằng hai quốc gia có các điều kiện khác như nhau, quốc gia nào có trình độ khoa học công nghệ tốt hơn sẽ tác động đến tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế mạnh hơn. Như vậy, trong mô hình này Solow đã nghiên cứu và đưa ra 3 nhân tố ảnh hưởng tới tích lũy vốn của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế, đó là tốc độ tăng dân số, tỷ lệ tiết kiệm và sự phát triển của khoa học công nghê. Trong đó, việc tăng tiết kiệm hay sự phát triển khoa học công nghệ có tác động thuận chiều với tăng trưởng kinh tế, còn tốc độ tăng dân số có tác động ngược chiều.
Song trong mô hình của mình, Solow cũng chưa chỉ ra mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. Hơn nữa, ông xem khoa học công nghệ là biến ngoại sinh, tức là nó luôn cố định, không có sự thay đổi trong mô hình. Một quốc gia xuất phát với nhân tố A như thế nào thì sẽ duy trì liên tục trong các năm tiếp theo. Đây có lẽ là một trong những hạn chế lớn nhất của Solow.
Thực tế cho thấy nhân tố này liên tục thay đổi và sẽ tác động không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng kinh tế. Để khắc phục hạn chế trong mô hình của Solow, Romer là một trong những nhà kinh tế đầu tiên đã đưa nhân tố khoa học công nghệ thành biến nội sinh, tức là nó liên tục thay đổi cùng những nhân tố khác trong mô hình. Romer đã rất thành công và có đóng góp vĩ đại vào kho tàng kinh tế khi ông nghiên cứu và chỉ ra mối quan hệ sâu sắc giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Phần tiếp theo xin được giới thiệu khái quát về mô hình kinh tế của Romer.
Mô hình tăng trưởng kinh tế của Romer [77][78][79] Một số giả định trong mô hình: - Không có sự gia tăng dân số, lực lượng lao động trong mô hình được cố định ở L. - Tốc độ tăng trưởng kinh tế bị tác động bởi 2 nhân tố là sự tích lũy về vốn trong nền kinh tế (như mô hình Solow) và sự phát triển của khoa học công nghệ (điểm mới so với mô hình Solow), điều này đồng nghĩa với việc ông đã đưa nhân tố khoa học công nghệ thành biến nội sinh trong mô hình của mình. Khái quát nội dung của mô hình - Các doanh nghiệp: Mô hình đã chia nền kinh tế thành 3 khu vực: khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng (final output sector), khu vực sản xuất hàng hóa trung gian (intermediate goods sector) và khu vực nghiên cứu phát triển công nghệ (R&D sector). Khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng: Các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa cuối cùng thực hiện việc sản xuất một khối lượng hàng hóa lớn cho nền kinh tế.
Lượng hàng hóa cuối cùng này được sử dụng để tiêu dùng hoặc là đầu vào cho việc sản xuất hàng hóa trung gian. Thị 3 trường sản xuất hàng hóa cuối cùng là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Hàm sản xuất được giả định là hàm số không đổi theo quy mô (constant return to scale SCR) và có dạng biểu diễn như sau: 𝑌𝑌 = (𝐴𝐴𝐿𝐿𝑌𝑌 )1−𝛼𝛼 𝐾𝐾 𝛼𝛼 (1-5) 𝐴𝐴̇ = 𝛿𝛿𝐿𝐿𝐴𝐴 (1-6) 𝐴𝐴 Trong đó: Y là sản phẩm cuối cùng của nền kinh tế, A là nhân tố khoa học công nghệ, 𝐿𝐿 là lực lượng lao động trong xã hội, và lực lượng lao động trong xã hội có thể được sử dụng vào sản xuất hàng hóa cuối cùng (𝐿𝐿𝑌𝑌 ) hoặc để nghiên cứu khoa học (𝐿𝐿𝐴𝐴 ), K là hàng hóa trung gian hay hàng hóa vốn, 𝛿𝛿 phản ánh năng suất của hoạt động R&D. Khu vực sản xuất hàng hóa trung gian: Khu vực này thực hiện việc sản xuất các hàng hóa trung gian khác nhau.
Việc sản xuất hàng hóa trung gian ở khu vực này so với việc sản xuất hàng hóa cuối cùng có sự khác biệt. Để sản xuất được hàng hóa trung gian, người sản xuất phải tham gia vào thị trường công nghệ để mua được một thẻ xanh (bằng phát minh sáng chế về việc độc quyền sản xuất một loại hàng hóa trung gian nào đó). Mô hình cũng giả định rằng hàng hóa trung gian được sản xuất từ hàng hóa cuối cùng theo tỷ lệ 1:1, có nghĩa là 1 đơn vị hàng hóa cuối cùng được sử dụng để sản xuất 1 đơn vị hàng hóa trung gian. Khu vực nghiên cứu và phát triển R&D: Các doanh nghiệp hay các viện nghiên cứu ở khu vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chuyên thực hiện các hoạt động R&D, ví dụ họ thực hiện việc nghiên cứu và đưa ra những ý tưởng về công nghệ hay sản phẩm mới, hoặc đưa ra các mô hình phát triển mới….
Những kết quả nghiên cứu thành công sẽ được nhà nước công nhận bằng một tấm thẻ xanh và họ có thể bán tấm thẻ xanh hay bằng phát minh sáng chế đó cho các doanh nghiệp để tiến hành sản xuất ra một loại hàng hóa trung gian mới cho xã hội. Thị trường đối với các bằng phát minh sáng chế này là cạnh tranh hoàn hảo, điều này góp phần khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và đưa ra được ngày càng nhiều các sáng kiến mới cho xã hội. Các hộ gia đình: Cũng giống như ở mô hình kinh tế của trường phái tân cổ điển, các hộ gia đình thực hiện việc cung cấp lao động cho các doanh nghiệp và họ sẽ nhận được tiền lương từ các doanh nghiệp. Họ sẽ sử dụng một phần số tiền lương đó để tiêu dùng, phần còn lại là để tiết kiệm.