Chương 1: Giới thiệu. Chương này bao gồm các nội dung lý do hình thành đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài, xác định các vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc luận văn. Chương 2: Tổng quan. Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm các yếu tố, thông số, mô hình và giải pháp mất an toàn lao động.
Một số nghiên cứu trong nước và quốc tế đã được công bố. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ nêu phương pháp nghiên cứu và thang đo. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương này nội dung đề cập về phần phân tích dữ liệu và thảo luận kết quả nghiên cứu, trên cơ sở đó nghiên cứu sẽ nhóm các yếu tố chính thường xảy ra có ảnh hưởng nhiều đến mất an toàn lao động, đồng thời dựa vào các nhân tố này sẽ xây dựng các mô hình nhân tố chính đánh giá tình trạng mất an toàn lao động trong các dự án xây dựng. Trang 19/120 Luan van Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Chương này trình bày các kết luận kết quả chính của nghiên cứu, kiến nghị, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN Chương 2 sẽ giới thiệu về cơ sở lý thuyết bao gồm các Yếu tố, Thông số, Mô hình mất an toàn lao động và Giải pháp.
Một số nghiên cứu trong nước và quốc tế đã được công bố, trên cơ sở đó đề xuất ra một số nguyên nhân gây ra mất an toàn lao động để khảo sát, phân tích. Yếu tố mất an toàn lao động: Theo Thông tư số 22/2010/TT-BXD, an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình là hệ thống các biện pháp về tổ chức và quản lý, điều hành trên công trường nhằm cải thiện điều kiện lao động và ngăn chặn tai nạn lao động trong thi công xây dựng công trình [2]. Văn và Lan [3] kết luận rằng công nhân thiếu nhận thức về tầm quan trọng của an toàn lao động, công nhân chưa được huấn luyện đầy đủ và trang bị bảo hộ lao động, thiết bị hư cũ, thao tác thiếu an toàn là những nguyên nhân chính gây nên tai nạn. QCVN-18-2014-BXD [5] Không được làm việc trên giàn giáo, ống khói, đài nước, cột điện, trụ hoặc dầm cầu, mái nhà hai tầng trở lên khi mưa to, giông, bão hoặc có gió từ cấp 5 trở lên.
TCVN-5308-1991[6] Dựng lắp cốp pha ở đô cao không lớn hơn 6m được dùng giá đỡ để đứng thao tác ở độ cao trên 6m phải dùng sàn thao tác. Dựng lắp cốp pha treo hoặc cốt pha tự mang ở độ cao hơn 8m thì phải giao cho công nhân có kinh nghiệm làm. Nhiều nhà nghiên cứu Peterson (1971); Drury và Brill (1983); Krause và nhóm tác giả (1990); Aaltonen (1996); Sawacha và Fong (1999); Abdelhamid (2000) kết luận rằng có nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất các ý kiến khác nhau về nguyên nhân của nguy hiểm nghề nghiệp. Tuy nhiên hầu hết cho rằng đa số các rủi ro nghề nghiệp và tai nạn gây ra bởi ba lý do chính: sự xuất hiện thường xuyên của các vụ tai nạn, điều kiện không an toàn, và hành vi không an toàn (trích từ Liu và Tsai [7]) điển Trang 20/120 Luan van hình là nghiên cứu của Haslam và nhóm tác giả [13] nói rằng việc thực hiện an toàn trong xây dựng kém vẫn là nguyên nhân mà thế giới quan tâm.
Thiết kế hệ thống an toàn kém, bảo dưỡng kém, sử dụng thiết bị lỗi, giám sát lẫn đào tạo kém chuyên môn. Qua thống kê cho thấy các tai nạn thường gặp nhất là ngã từ trên cao, trượt tại lối đi, đồ vật rơi. Chi và nhóm tác giả [8] đã phát triển thành một hệ thống mã hóa thuận lợi cho việc phân loại té ngã gây tử vong dựa trên 621 trường hợp bao gồm: quy mô công ty, tuổi, giới tính, kinh nghiệm, nguyên nhân của té ngã, vị trí té ngã. Yếu tố công tác bao gồm cố gắng quá sức, kiểm soát không bình thường, thực hiện công việc kém và việc loại bỏ các biện pháp bảo vệ.
Công cụ và các yếu tố thiết bị bao gồm sự cố kỹ thuật, các công cụ và thang không an toàn. Quản lý các yếu tố môi trường xung quanh bao gồm các lỗ (cửa mái, ô cầu thang…) không có bảo vệ, thiếu tuân thủ giàn giáo, lại gần trái phép vào khu vực nguy hiểm, tiếp xúc với các đối tượng gây té ngã, các chất có hại và yếu tố cá nhân nhằm xác định tầm quan trọng của chúng, từ đó đề xuất các chiến lược đảm bảo an toàn lao động hiệu quả. Theo mẫu khảo sát của Huang và Hinze [9] cho thấy tai nạn ngã gây tử vong của công nhân xây dựng chiếm tỉ trọng ngày càng tăng, xảy ra chủ yếu tại các dự án xây dựng mới, có chi phí xây dựng tương đối thấp, kinh nghiệm dường như không làm giảm bớt sự cố xảy ra, người lao động thường đánh giá sai các mối nguy hiểm và làm các kết cấu tạm thời đang được sử dụng. Bên cạnh đó nhiều nhà nghiên cứu cho rằng 30% của các vụ tai nạn liên quan đến người phụ trách bao gồm cả quản đốc hoặc các nhà quản lý của công ty, các báo cáo chi tiết cũng cho thấy thêm rằng các dự án có nhiều tai nạn ngã cao thường là dự án quy mô nhỏ, các nhân viên cấp dưới có thể được nhắc nhở bởi cấp trên của họ về biện pháp phòng ngừa an toàn; tuy nhiên người phụ trách hầu như làm việc riêng của họ mà không có bất kỳ sự giám sát hoặc nhắc nhở nào đến cấp dưới (trích từ Wong và nhóm tác giả [10] ).
Aneziris và nhóm tác giả [14] đã đưa ra những đánh giá rủi ro của ngã cao và đề xuất 6 tình huống ngã cao bao gồm cả ngã từ cầu thang, giàn giáo, mái nhà, lỗ trên bề mặt, các nền tảng di chuyển và các phương tiện phi di chuyển. Tương tự vậy Janicak Trang 21/120 Luan van [15] cho thấy rằng các trường hợp tử vong của người lao động do té ngã qua lỗ thông tầng, cửa mái, mái vồm, từ bậc thang, lắp đặt và tháo dỡ giàn giáo, bề mặt làm việc không phù hợp, do kết cấu bị sụp đổ, không có hoặc sử dụng không đúng quy định của thiết bị bảo hộ cũng đặt ra một nguy cơ đáng báo động cho ngành công nghiệp xây dựng. Bên cạnh đó Bureau of Labor Statistics (BLS) (2007b); Fredericks, Abudayyeh, Choi, Wiersma và Charles (2005); Lowery và nhóm tác giả (2000); NIOSH (1999); Okun, Lentz, Schulte và Stayner (2001); Personick (1990); Suruda, Philips, Lillquist, và Secek (2003) cho rằng một trong những khu vực nguy hiểm nhất trong ngành công nghiệp xây dựng là lợp mái; BLS (2007c); Fredericks và nhóm tác giả (2005); Hsiao và Simeonov (2001) cho rằng do công việc trên mái nhà rất gian khổ, nó đòi hỏi phải leo trèo và đi bộ qua lại giữa các mái khác nhau (trích từ Sa và nhóm tác giả [12]). Adam và nhóm tác giả [16] kết luận rằng một trong những giai đoạn có nguy cơ bị té ngã từ độ cao cao nhất trong xây dựng một công trình là việc lắp ghép ván khuôn cho các kết cấu bê tông là giai đoạn nguy hiểm nhất liên quan đến té ngã, đặc biệt khi lắp ghép ván khuôn sàn.
Nhóm tác giả cũng đặc biệt nhấn mạnh rằng rơi trong thời gian lắp ráp ván khuôn tấm sàn, có một giai đoạn trong đó có nguy cơ cao đáng kể là khi lắp dựng các kết cấu bằng kim loại hỗ trợ cốt pha (hệ cột chống và dầm thép). Cũng tương tự vậy Tam và nhóm tác giả [19] chỉ ra rằng trong tất cả các vụ tai nạn gây tử vong do ngã tại Trung Quốc vào năm 1999, có tổng cộng 34 trường hợp được xác định là đã xảy ra trong quá trình chuẩn bị ván khuôn cho các kết cấu bê tông, chiếm 6% tổng số tử vong do ngã và điển hình là nghiên cứu Jannadi và Assaf [24] cũng xác định quá trình thi công ván khuôn là một trong những giai đoạn có nguy cơ tai nạn cao nhất, đặc biệt là do vật rơi từ trên cao. Wong và nhóm tác giả [17] đã khảo sát và cho thấy rằng nguyên của các vụ tai nạn rơi do không được đào tạo an toàn, thiếu thiết bị khi làm việc trên cao, thái độ và hành vi kém an toàn của người lao động, giám sát không theo dõi chặt chẽ đây là những nguyên nhân chính gây tử vong trong các ngành công nghiệp xây dựng Hồng Kông, cũng như ở các nước khác. Thống kê được công bố của Bộ Lao động, đặc khu hành chính Hồng Kông (HKSAR) cho thấy rằng năm 2000-2004 khoảng một nửa số Trang 22/120 Luan van tai nạn chết người trong ngành xây dựng là một kết quả tai nạn rơi của người lao động từ trên cao.
Abdelhamid và nhóm tác giả [18] đã thống kê rằng công việc xây dựng là công việc nguy hiểm cùng với hành vi con người. Mục tiêu nghiên cứu của nhóm tác giả là để xây dựng mô hình truy tìm ba nguyên nhân gốc rễ tai nạn: Không xác định điều kiện an toàn trước khi làm việc trong khi công việc đã bắt đầu; Quyết định tiến hành công việc trong khi người lao động chưa được trang bị kiến thức về an toàn; Quyết định phải làm việc không an toàn bất kể điều kiện ban đầu của môi trường làm việc. Mục đích là để bổ sung cho các kỹ thuật điều tra tai nạn xây dựng hiện có với nguyên nhân vụ tai nạn hiện nay và lý thuyết lỗi của con người. Lipscomb và nhóm tác giả [23] cho rằng những nguy cơ tiềm ẩn khi làm việc trên cao kết hợp với tác động của ngành xây dựng là một trong những nguyên nhân chính của các vụ tai nạn xây dựng gây tử vong do ngã từ độ cao.
Chứng minh cho điều đó là các mô hình rơi từ trên cao của Hinze và nhóm tác giả (2002) cho rằng rơi chủ yếu xảy ra ở các dự án xây dựng có chi phí tương đối thấp, mùa trong năm và các ngày trong tuần (đầu tuần), rơi từ sàn, mái nhà, rơi từ giàn giáo, các bề mặt làm việc và rơi từ thang (trích từ Navon và nhóm tác giả [20]). Ahmad và nhóm tác giả [21] đã cho thấy rằng trong các tai nạn nghề nghiệp, loại phổ biến nhất của tai nạn chết người là rơi từ trên cao. Rơi từ trên cao vẫn còn là một nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong trong cuộc sống hằng ngày.