CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan về đề tài Thực hành là một kỹ năng không thể thiếu của sinh viên ngành kỹ thuật, thực hành trên thiết bị thật, thực hành trên các công cụ giả lập. Công nghệ luôn thay đổi, hệ thống lab phải luôn bám sát và cập nhật theo xu thế công nghệ, hiện nay hệ thống lab của Khoa CNTT mà cụ thể là ngành Truyền thông và Mạng máy tính khá đa dạng, khi học các môn về hạ tầng, sinh viên có thể thực hành trên: - Hệ thống thiết bị thật của hãng Cisco: có hơn 40 thiết bị router, switch chính hãng. Với số lượng thiết bị này đáp ứng khá tốt nhu cầu thực hành trên thiết bị của sinh viên khi học tập tại Trường. - Phần mềm giả lập: hiện đang sử dụng công cụ Packet Tracer của hãng Cisco, giúp sinh viên có thể thực hành thêm tại nhà.
Một xu thế mới của công nghệ mạng hiện nay là sử dụng các gói giải pháp ảo hóa, trong đó các thiết bị mạng đều là các thiết bị ảo. Các thiết bị này được triển khai hoạt động đa dạng trên các nền Hypervisor khác nhau và có hiệu suất hoạt động tương đương hoặc thậm chí mạnh hơn các thiết bị thật cùng chủng loại. Giải pháp ảo hóa thiết bị mạng này hiện đang sử dụng rộng rãi trong công nghệ điện toán đám mây. Nhằm giúp sinh viên tiếp cận với xu hướng mới này, hỗ trợ sinh viên thực hành khi học online, cũng như tạo môi trường cho sinh viên tìm hiểu nghiên cứu thêm các thiết bị của nhiều hãng sản xuất khác nhau (ngoài Cisco) đó cũng chính là mục tiêu của đề tài “ Xây dựng hệ thống lab trên môi trường ảo hóa hỗ trợ sinh viên học tập, nghiên cứu hạ tầng mạng” 1.2 Một số công cụ giả lập 1.1 Cisco Packet Tracer Cisco Packet Tracer là phần mềm mô phỏng hệ thống mạng trực quan đa nền tảng được thiết kế bởi Cisco, có thể chạy trên Linux và Windows.
Phần mềm này cho phép người dùng tạo cấu trúc liên kết mạng và mô phỏng cấu hình router, switch, firewall, end device (PC, IP phone,.) 1 Cisco Packet Tracer có giao diện người dùng dễ sử dụng kèm theo kéo thả các thiết bị vào mô hình, cho phép người dùng có thể thêm, xóa các node mạng mô phỏng phù hợp. Tuy nhiên do hạn chế về chức năng nên Cisco chỉ định sử dụng như một công cụ trợ giúp trong học tập chứ không thể thay thế được router và switch thật. Bản thân phần mềm cũng chỉ đáp ứng một phần nhỏ các tính năng được tìm thấy trong các phiên bản IOS hiện tại, bộ lệnh giới hạn và độ tin cậy thấp. Ưu điểm: - Không tốn tài nguyên trên máy cài đặt phần mềm nhiều.
- Xem được đường đi gói tin đi và về như thế nào. Nhược điểm: - Không thể mô phỏng kết nối ra ngoài Internet. - Một số tính năng của thiết bị còn hạn chế, độ tin cậy thấp.2 GNS3 (Graphical Network Simulator-3) Tiền thân của GNS3 chính là Dynamips. GNS3 được cập nhật thêm vài tính năng tiêu biểu là giao diện đồ họa.
GNS3 có thể kết hợp với VMWare hay Virtualbox để có thể làm được thử nghiệm nhiều thiết bị khác nhau không chỉ switch hay router mà còn có thể là firewall hay giả lập máy tính window, linux,… Các phiên bản GNS3 sau này có sự nâng cấp đáng kể để vừa hạn chế tiêu hao tài nguyên máy tính mà còn tối ưu về mặt thiết bị để tích hợp. Ưu điểm: - Dễ dàng xem, sửa đổi mã nguồn GNS3 từ Github. - Các thiết bị sử dụng trong trình giả lập người dùng có thể khởi động hoặc tắt đi tùy ý. - Kết nối vào hệ thống mạng thật và sử dụng như thiết bị thật.
- Ngoài giả lập các thiết bị như router, switch thì có thể giả lập thêm các thiết bị khác như firewall. Nhược điểm: - Tốn nhiều tài nguyên trên máy cài đặt phần mềm. 2 - Quá trình cài đặt và sử dụng hơi tốn thời gian.3 So sánh UNetLab (EVE-NG) với Cisco Packet Tracer và GNS3 Cisco Packet Tracer GNS3 UNetLab Phụ thuộc vào hệ điều hành cài đặt, đôi Không phụ thuộc vào hệ điều hành (chạy khi không ổn định nếu hệ điều hành bị độc lập trên phần mềm giả lập VMware lỗi. Workstation hoặc Virtuabox, VSphere) Cài trực tiếp trên phần mềm để login.
Sử dụng trên nền trình duyệt web. Chỉ cho phép một user duy nhất, chạy Sử dụng chế độ Multi-user (cho phép localhost. nhiều người truy cập khác nhau, chia sẻ cùng làm lab). Bảng 1: So sánh các công cụ giả lập 1.3 Tổng quan ảo hóa 1.1 Tổng quan Ảo hóa đang là lĩnh vực nóng ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới.
Nhiều nền tảng ảo hóa mới xuất hiện có cả giải pháp phần mềm và phần cứng. Kỹ thuật ảo hóa đã không còn xa lạ với thực tế đời thường kể từ khi VMware giới thiệu sản phẩm VMware Workstaion đầu tiên vào năm 1999. Sản phẩm này ban đầu được thiết kế để hỗ trợ việc phát triển và kiểm tra phần mềm và đã trở nên phổ biến nhờ khả năng tạo những máy tính ảo chạy đồng thời nhiều hệ điều hành khác nhau trên cùng một máy tính thật. Ảo hóa là một công nghệ được ra đời nhằm khai thác triệt để khả năng làm việc của các phần cứng trong một hệ thống máy chủ.
Nó hoạt động như một tầng trung gian giữa hệ thống phần cứng máy tính và phần mềm chạy trên nó. Ý tưởng của công nghệ ảo hóa máy chủ là từ một máy vật lý đơn lẻ có thể tạo thành nhiều máy ảo độc lập. Ảo hóa cho phép tạo nhiều máy ảo trên một máy chủ vật lý, mỗi một máy ảo cũng được cấp phát tài nguyên phần cứng như máy thật gồm có Ram, CPU, Card mạng, ổ cứng, 3 các tài nguyên khác và hệ điều hành riêng. Khi chạy ứng dụng, người sử dụng không nhận biết được ứng dụng đó chạy trên lớp phần cứng ảo.
Các bộ xử lý của hệ thống máy tính lớn được thiết kế hỗ trợ công nghệ ảo hóa và cho phép chuyển các lệnh hoặc tiến trình nhạy cảm của các máy tính ảo có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên hệ thống cho hệ điều hành xử lý, sau đó lớp ảo hóa sẽ mô phỏng kết quả để trả về cho máy ảo. Ngày nay hai nhà sản xuất bộ xử lý lớn trên thế giới là Intel và AMD đều tích hợp công nghệ ảo hóa vào trong các sản phẩm của họ. Sử dụng công nghệ ảo hóa đem đến cho người dùng nhiều tiện ích. Việc có thể chạy nhiều hệ điều hành đồng thời trên cùng một máy tính thuận tiện cho việc học tập, nghiên cứu và đánh giá một sản phẩm hệ điều hành hay một phần mềm tiện ích nào đó.
Nhưng không dừng lại ở đó, những khả năng và lợi ích của ảo hóa còn hơn thế, nơi gặt hái được nhiều thành công và tạo nên thương hiệu của công nghệ ảo hóa đó chính là môi trường hệ thống máy chủ ứng dụng và hệ thống mạng.1: Hệ thống ảo hóa 1.2 Phân loại ảo hóa 1.1 Ảo hóa hệ thống lưu trữ Ảo hóa hệ thống lưu trữ về cơ bản là sự mô phỏng, giả lập việc lưu trữ từ các thiết bị lưu trữ vật lý. Các thiết bị này có thể là băng từ, ổ cứng hay kết hợp cả hai loại. Việc làm này mang lại các lợi ích như việc tăng tốc khả năng truy xuất dữ liệu, do việc phân chia các tác vụ đọc, viết trong mạng lưu trữ. Ngoài ra, việc mô phỏng các thiết bị lưu trữ vật lý cho phép tiết kiệm thời gian hơn thay vì phải định vị xem máy chủ nào hoạt động trên ổ cứng nào để truy xuất.
4 Ảo hóa hệ thống lưu trữ có ba dạng mô hình sau đây: - Host-based: Trong mô hình này, ngăn cách giữa lớp ảo hóa và ổ đĩa vật lý là driver điều khiển của các ổ đĩa. Phần mềm ảo hóa sẽ truy xuất tài nguyên (các ổ cứng vật lý) thông qua sự điều khiển và truy xuất của lớp driver này. - Storage-device based: Trong dạng này, phần mềm ảo hóa giao tiếp trực tiếp với ổ cứng. Ta có thể xem như đây là một dạng firmware đặc biệt, được cài trực tiếp vào ổ cứng.
Dạng này cho phép truy xuất nhanh nhất tới ổ cứng, nhưng cách thiết lập thường khó khăn và phức tạp hơn các mô hình khác. Dịch vụ ảo hóa được cung cấp cho các Server thông qua một thiết bị điều khiển gọi là Primary Storage Controller. - Network-based: Trong mô hình này, việc ảo hóa sẽ được thực thi trên một thiết bị mạng, ở đây có thể là một thiết bị switch hay một máy chủ. Các switch hay máy chủ này kết nối với các trung tâm lưu trữ (SAN).
Từ các switch hay server này, các ứng dụng kết nối vào được giao tiếp với trung tâm dữ liệu bằng các “ổ cứng” mô phỏng do switch hay máy chủ tạo ra dựa trên trung tâm dữ liệu thật. Đây cũng là mô hình hay gặp nhất trên thực tế.2 Ảo hóa hệ thống mạng Ảo hóa hệ thống mạng là một tiến trình hợp nhất tài nguyên, thiết bị mạng cả phần cứng lẫn phần mềm thành một hệ thống mạng ảo. Sau đó, các tài nguyên này sẽ được phân chia thành các channel và gắn với một máy chủ hoặc một thiết bị nào đó. Có nhiều phương pháp để thực hiện việc ảo hóa hệ thống mạng.
Các phương pháp này tùy thuộc vào các thiết bị hỗ trợ, tức là các nhà sản xuất thiết bị đó, ngoài ra còn phụ thuộc vào hạ tầng mạng sẵn có, cũng như nhà cung cấp dịch vụ mạng. Một vài mô hình ảo hóa hệ thống mạng: - Ảo hóa lớp mạng (Virtualized overlay network): Trong mô hình này, nhiều hệ thống mạng ảo sẽ cùng tồn tại trên một lớp nền tài nguyên dùng chung. Các tài nguyên đó bao gồm các thiết bị mạng như router, switch, các dây truyền dẫn, NIC. Việc thiết lập nhiều hệ thống mạng ảo này sẽ cho phép sự trao đổi thông suốt giữa các hệ thống mạng khác nhau, sử dụng các giao thức và phương tiện truyền tải khác nhau, ví dụ như mạng Internet, hệ thống PSTN, hệ thống VoIP.
5 - Mô hình ảo hóa của Cisco: Phân mô hình ảo hóa ra làm ba khu vực, với các chức năng chuyên biệt.