CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của trách nhiệm hình sự. Khái niệm trách nhiệm hình sự Trong khoa học luật hình sự, khi nêu vấn đề liên quan đến khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, chúng ta ngay lập tức gắn nó với khái niệm trách nhiệm hình sự. Hay nói cách khác, khái niệm miễn trách nhiệm hình sự xuất phát từ khái niệm trách nhiệm hình sự.
Tùy từng giai đoạn phát triển của khoa học luật hình sự cũng như quan điểm pháp lý của các nhà khoa học luật hình sự mà khái niệm trách nhiệm hình sự có nội hàm khác nhau. Chẳng hạn: Theo quan điểm của GS.TSKH Đào Trí Úc thì "trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước" [65, tr.41]; Tuy nhiên theo TSKH Lê Cảm thì "trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định" [8, tr.122]; Bên cạnh quan điểm của GS.TSKH Đào Trí Úc và TSKH Lê Cảm thì một nhà khoa học khác là GS.TS Đỗ Ngọc Quang thì định nghĩa: "Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện" [49, tr.14]; Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự, Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 quy định chủ thể của tội phạm là 9 pháp nhân thương mại bên cạnh con người là chủ thể như trước đây. Như vậy, do có sự thay đổi trong khái niệm tội phạm mà khái niệm trách nhiệm hình sự cũng có thay đổi căn bản. Trên cơ sở tổng kết, kế thừa các định nghĩa về trách nhiệm hình sự của các nhà khoa học đi trước cũng như quan điểm về khái niệm trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành thì chúng tôi mạnh dạn đưa ra khái niệm trách nhiệm hình sự dưới góc độ khoa học luật hình sự như sau: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước do luật hình sự quy định đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội.
Thông qua khái niệm về trách nhiệm hình sự, chúng ta dễ dang nhận ra được cơ sở và những điều kiện của của trách nhiệm hình sự. Hay nói cách khác, trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra khi có người, pháp nhân thương mại phạm một tôi đã được Bộ luật Hình sự quy định. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự Trên cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, chúng ta có thể hiểu rằng, khi một chủ thể thỏa mãn các cơ sở, điều kiện pháp lý ấy thì chủ thể đó phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn, không phải lúc nào cũng vậy.
Chính các chủ thể ấy, trong những điều kiện nhất định dựa trên những căn cứ luật định có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự. Khi nghiên cứu khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, chúng ta dễ dàng nhận thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa cơ sở và điều kiện của trách nhiệm hình sự với cơ sở và điều kiện của miễn trách nhiệm hình sự. Hay nói cách khác, khái niệm miễn trách nhiệm hình sự đi ra từ và có liên hệ mật thiết với khái niệm trách nhiệm hình sự. 10 Với tư cách chế định tiêu biểu thể hiện sự cụ thể hóa bản chất khoan hồng, nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, miễn trách nhiệm hình sự là chế định được đặc ra từ rất sớm, khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành được độc lập.
Trước năm 1985, miễn trách nhiệm hình sự chưa được quy định thành một chế định trong Bộ luật Hình sự, tuy nhiên nội dung miễn trách nhiệm hình sự đã tồn tại trong các khái niệm như "miễn nghị ", "miễn tố", "xá miễn”, "tha bổng”, "miễn hết cảc tội ", “ tha miễn trách nhiệm hình sự" nằm rãi rác trong các văn bản mang tính quy phạm pháp luật của chính quyền lúc bấy giờ. Pháp luật hình sự nước ta mà cụ thể là Bộ luật Hình sự đã tập hợp các quy phạm quy định về cơ sở và điều kiện miễn trách nhiệm hình sự thành một chế định luật pháp hoàn thiện. Trãi qua thời gian, khái niệm miễn trách nhiệm hình sự được các nhà khoa học luật hình sự dần hoàn thiện nhưng vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể là: Theo GS-TSKH Đào Trí Úc thì Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định" [65, tr. 269]; Trong tác phẩm của mình, TSKH Lê Cảm thể hiện quan điểm của mình khi nêu khái niệm Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [11, tr.7]; Chi tiết hơn, tác giả Lê Thị Sơn, trong tác phẩm "Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự", tác giả nêu khái niệm: Miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội có nghĩa là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo cả miễn phải chịu các hậu quả tiếp theo do việc thực 11 hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn bị mang án tích.
Trong trường hợp này, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn mang án tích" [55, tr. Các khái niệm trên dù dài ngắn khác nhau, tuy nhiên nội hàm của nó chứa đựng đầy đủ các nội dung, các dấu hiệu nhận biết. Hơn thế nữa các khái niệm đó đều thống nhất khẳng định khái niệm miễn trách nhiệm hình sự phải trả lời được các câu hỏi sau đây: Bản chất pháp lý của nó là gì; Hình thức thể hiện của nó như thế nào; Cơ quan Nhà nước nào có thẩm quyền nào áp dụng; Đối tượng được áp dụng là ai; Phải đáp ứng căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể nào. Đối chiếu các khái niệm trên đây với quy định của pháp luật hình sự hiện hành, chúng ta dễ dàng thấy các khái niệm trên không còn đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Cụ thể là các khái niệm trên chưa nêu ra được ngoài con người với tư cách là chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự thì pháp nhân thương mại cũng là chủ thể. Bổ sung đặc điểm về chủ thể là pháp nhân thương mại, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm miễn trách nhiệm hình sự có thể được định nghĩa như sau: Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam mà nội dung thể hiện sự hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi, pháp nhân thương mại trong việc thực hiện hành vi đó, do các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm 12 quyền áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định. Các đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự Sau khi đưa ra được khái niệm, chúng tôi có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự như sau: Thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định minh chứng cho bản chất nhân đạo, khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta thông qua chính sách hình sự nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Nó phản ánh mục đích của quá trình xử lý hình sự theo quan điểm của Đảng và Nhà nước là nhằm giáo dục người phạm tội trở thành người tốt.
có ích cho xã hội. Phản ánh chủ trương đúng đắn rằng việc nghiêm trị phải kết hợp với khoan hồng", trừng trị phải kết hợp với giáo dục, cải tạo. Thứ hai, khi được miễn trách nhiệm hình thì chủ thể được miễn không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi phạm tội đã đã thực hiện. Hay nói cách khác, trong những giai đoạn tố tụng nhất định, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thấy rằng việc áp dụng các chế tài hình sự đối với chủ thể là không còn thiết mà vẫn đảm đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Tất nhiên việc đánh giá như thế nào là không còn cần thiết áp dụng chế tài hình sự phải dựa trên căn cứ pháp lý và những điều kiện nghiêm ngặt do luật định. Thứ ba, chỉ những người, pháp nhân thương mại mà hành vi của họ đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm mới là đối tượng được xem xét miễn trách nhiệm hình sự. Nếu hành vi không cấu thành tội phạm thì phải được xem là không phạm tội chứ không được miễn trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ tình trạng pháp lý của chủ thể thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự và không phạm tội là hoàn toàn khác biệt.
Đặc điểm này của khái niệm miễn trách nhiệm hình sự cũng là đặc điểm tiêu biểu để phân biệt giữa miễn trách nhiệm hình sự và hành vi không cấu thành tội phạm. 13 Thứ tư, khi thỏa mãn các căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định, việc miễn trách nhiệm hình sự phải được cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền quyết định và thể hiện bằng hình thức văn bản. Cụ thể chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong từng giai đoạn tố tụng gắn liền với các cơ quan đó mới có thẩm quyền quyết định rằng người, pháp nhân thương mại được miễn trách nhiệm hình sự.