CHƯƠNG 1 LY LUAN VA QUY DINH CUA PHAP LUAT VE MIEN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CHO NGUOI DUOI 18 TUOI PHAM TOI 1. Lý luận về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với các khái niệm trách nhiệm hình sự đối với cá nhân phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, người dưới 18 tuổi phạm tdi. Việc xây dựng khái niệm và tìm ra đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi không thể tách rời các khái niệm nói trên.
Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự là hai chế định của luật hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trách nhiệm hình sự là chế định trung tâm, quan trọng, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và chi phối các quy phạm của Bộ luật Hình sự bao gồm cả Phần những quy định chung và Phần các tội phạm. Trong sách báo, cũng như thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật ngữ "trách nhiệm" được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào lĩnh vực hoặc ngữ cảnh cụ thể. Thông thường, “trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, ở khía cạnh tích cực, trách nhiệm là bốn phận, nghĩa vụ hay công việc được giao, nó bao hàm cả quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định của một người, một tổ chức trước người hay tô chức khác, trước Nhà nước hoặc trước xã hội.
Ví dụ, trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường sống: trách nhiệm của bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái, v. Thứ hai, ở khía cạnh tiêu cực, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người hoặc một tô chức phải gánh chịu trước người hoặc tổ chức khác, trước Nhà nước hay trước xã hội do đã thực hiện hành vi vi phạm bốn phận, nghĩa vu cua minh [33, tr. Trách nhiệm hình sự, với tư cách là một dạng của trách nhiệm pháp lý, được dùng theo nghĩa thứ hai và là dạng pháp lý đặc biệt nghiêm khắc so với trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hành chính. Xung quanh khái niệm trách nhiệm hình sự vẫn còn những quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là một loại quan hệ pháp luật giữa Nhà nước và người phạm tội. Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước của người phạm tội do việc người đó thực hiện tội phạm. Thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm là thời điểm bắt đầu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội nhưng không có nghĩa người phạm tội nào cũng đều phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trong nhiều trường hợp theo quy định của pháp luật hình sự, người phạm tội không bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự, đó là những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự. Do vậy không thể đồng nhất nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hình sự mà một người phải chịu trên thực tế do việc thực hiện tội phạm. Quan điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là tổng hợp các quyên và nghĩa vụ của Nhà nước và người phạm tội, được thể hiện ở các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự mà luật hình sự quy định, áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, bao gồm hình phạt và các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự khác không phải hình phạt và được bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người. Theo nhận định này, trách nhiệm hình sự bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người, nghĩa là từ khi khởi tố bị can, vậy, phải chăng trước khi có bản 10 án mà Tòa án tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với một người, người đó đã phải chịu một phần trách nhiệm hình sự? Điều này là không hợp lý.
Nếu người phạm tội đã phải chịu trách nhiệm hình sự trước khi có bản án của Tòa án, thì Tòa án sẽ không thể nhân danh Nhà nước tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối người đó tại phiên tòa. Quan điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Quan điểm này thực chất đã thu hẹp nội dung của trách nhiệm hình sự. Như chúng ta đã biết, trong số các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước có tính chất pháp lý hình sự áp dụng đối với người phạm tội thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu và nghiêm khắc nhất.
Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự và hình phạt là những khái niệm không đồng nhất. Trách nhiệm hình sự là một chế định pháp lý, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp đề thực hiện, đề cụ thể hóa trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự, theo luật hình sự Việt Nam, đã được phân ra thành hai loại: loại có hình phạt và loại không có hình phạt (miễn hình phạt). Quan điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và được thể hiện trước hết ở việc kết án của Tòa án, nhân danh Nhà nước, đối với người phạm tội.
Đây có lẽ là quan điểm thể hiện rõ ràng nhất bản chất của thuật ngữ “trách nhiệm hình sự”. Trách nhiệm hình sự chỉ tồn tại trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa một bên là Nhà nước, còn bên kia là chủ thể phạm tội và chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật mà các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải thực hiện. Trách nhiệm hình sự trước hết được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bởi lẽ bản án kết tội có hiệu lực pháp luật là căn cứ xác nhận người phạm tội bị 11 coi là có tội.
Tòa án ra bản án kết tội một người có thê kèm với việc quyết định hình phạt hoặc miễn hình phạt đối với người đó, tương ứng là hai dạng trách nhiệm hình sự: trách nhiệm hình sự có hình phạt và trách nhiệm hình sự không có hình phạt. Trong trường hợp bản án kết tội một người có tuyên hình phạt thì trách nhiệm hình sự không chỉ thê hiện ở việc người đó bị kết án, bị coi là có tội mà còn thể hiện ở loại và mức hình phạt cụ thể và dấu hiệu án tích của người có tội (trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bỗ sung năm 2017) đó là người đó bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng). Ngoài ra, trách nhiệm hình sự còn có thể được thể hiện ở các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người phạm tội. Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2017) quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự của cá nhân như sau: “7.
Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, có thể thấy, cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với cá nhân phạm tội chính là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Hay nói cách khác, để xác định trách nhiệm hình sự đối với một cá nhân phạm tội đòi hỏi phải xác định được hành vi mà người đó thực hiện thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được Bộ luật Hình sự quy định. Với cùng quan điểm như trên về “trách nhiệm hình sự”, nhưng cách xây dựng khái niệm của các nhà khoa học lại có sự khác nhau và tất cả đều có sự thống nhất về bản chất và hình thức thê hiện của trách nhiệm hình sự.TSKH Lê Cảm đã định nghĩa: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thê hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội 12 một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định [5, tr.TSKH Đào Trí Úc: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước [35, tr.
Từ sự tìm hiểu các quan điểm khác nhau trên đây kết hợp với việc nhận thức một số vấn đề có liên quan đến trách nhiệm hình sự của cá nhân phạm tội, tôi đồng ý với quan điểm cho răng: Trách nhiệm hình sự của cá nhân phạm tội là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm, được thê hiện ở bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định [33, tr. Khái niệm miễn TNHS được xây dựng dựa trên nền tảng của khái niệm TNHS. Nếu trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi của hành vi phạm tội thì miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi phạm tội này nếu có những căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Giống với người phải chịu trách nhiệm hình sự, người được miễn trách nhiệm hình sự là người đã thực hiện tội phạm, tức là đã thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Không thể áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người không thực hiện hành vi thỏa mãn dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự. Từ thời điểm thực hiện tội phạm, người phạm tội có nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm hình sự, tuy nhiên nếu xét thấy không cân thiết phải buộc người đó phải chịu trách nhiệm 13 hình sự, mà vẫn bảo đảm yêu cầu công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội, cũng như đấu tranh phòng chống tội phạm người đó được miễn trách nhiệm hình sự, lúc này, trách nhiệm hình sự chấm dứt. Xung quanh khái nệm miễn trách nhiệm hình sự vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau, cụ thể: GS.