Luận văn Thạc sĩ: Miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

Tài liệu nghiên cứu Miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự việt nam luận văn thạc, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ
93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CHO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI

1.1. Lý luận về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

1.1.1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

1.1.2. Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

1.1.3. Ý nghĩa của miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

1.2. Quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

1.2.1. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Phần những quy định chung của Bộ luật Hình sự

1.2.2. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CHO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI

2.1. Kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

2.1.1. Kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội tại Phần những quy định chung của Bộ luật Hình sự

2.1.2. Kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội tại Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự

2.2. Hạn chế, sai lầm trong thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

2.2.1. Hạn chế, sai lầm trong thực tiễn áp dụng quy định về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội tại Phần những quy định chung của Bộ luật Hình sự

2.2.2. Hạn chế, sai lầm trong thực tiễn áp dụng quy định về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội tại Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự

2.3. Nguyên nhân của kết quả đạt được và hạn chế, sai lầm trong thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

2.3.1. Nguyên nhân của kết quả đạt được

2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế, sai lầm

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CHO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI

3.1. Quan điểm bảo đảm áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

3.1.1. Áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội để thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp

3.1.2. Áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội để thực hiện nguyên tắc hiến định bảo đảm và bảo vệ quyền con người

3.1.3. Áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội để thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước

3.2. Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

3.2.2. Đẩy mạnh công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

3.2.3. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng nhận thức pháp luật, tinh thần trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội

3.2.4. Tăng cường công tác phối hợp trong điều tra, truy tố, xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội

3.2.5. Tăng cường vai trò của gia đình, nhà trường, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân trong việc giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự

3.2.6. Các giải pháp khác

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi

Chế định miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của chính sách nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam. Đây không chỉ là sự kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc mà còn là sự nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền trẻ em. Về bản chất, trách nhiệm hình sự (TNHS) là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước, thể hiện qua bản án kết tội của Tòa án. Như TSKH Lê Cảm đã định nghĩa: “Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định”. Theo đó, miễn trách nhiệm hình sự là việc không buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi đó, khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định. Đối tượng được áp dụng là người đã thực hiện hành vi cấu thành tội phạm, không áp dụng cho người không có hành vi phạm tội. Chế định này đối với người dưới 18 tuổi mang những đặc điểm riêng biệt, xuất phát từ đặc trưng tâm sinh lý, mức độ nhận thức và khả năng kiềm chế còn hạn chế của lứa tuổi này. Mục tiêu chính sách không chỉ là trừng phạt mà chủ yếu là giáo dục, giúp đỡ họ nhận thức sai lầm, sửa chữa và phát triển lành mạnh. Do đó, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội được Bộ luật Hình sự 2015 (BLHS 2015) quy định với phạm vi rộng hơn và điều kiện linh hoạt hơn so với người đã thành niên. Quyết định miễn TNHS có thể được đưa ra ở các giai đoạn tố tụng khác nhau, từ điều tra, truy tố đến xét xử, bởi các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Hậu quả pháp lý của việc được miễn TNHS là người phạm tội không bị kết án, không bị coi là có tội, không phải chịu hình phạt và không mang án tích, nhưng có thể phải chịu các biện pháp giám sát, giáo dục đặc thù.

1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của trách nhiệm hình sự

Theo khoa học luật hình sự, trách nhiệm hình sự được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS. Cơ sở của TNHS là việc thực hiện một tội phạm cụ thể (Điều 2 BLHS 2015). Bản chất của nó là một dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội và người phạm tội. Ngược lại, miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo, thể hiện việc Nhà nước không truy cứu TNHS đối với người phạm tội khi xét thấy không cần thiết, mặc dù hành vi của họ đã cấu thành tội phạm. Đây là sự khoan hồng đặc biệt, nhằm đạt được mục đích giáo dục, phòng ngừa tội phạm mà không cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất.

1.2. Đặc điểm riêng của miễn TNHS cho người dưới 18 tuổi

Việc miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội có những đặc điểm riêng. Thứ nhất, nó thể hiện sâu sắc nguyên tắc lấy giáo dục làm chủ đạo, mục tiêu là giúp người phạm tội sửa chữa sai lầm. Thứ hai, phạm vi áp dụng rộng hơn, bao gồm các căn cứ chung tại Điều 29 và căn cứ đặc thù tại Khoản 2 Điều 91 BLHS 2015. Thứ ba, thẩm quyền quyết định thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn. Thứ tư, khi được miễn TNHS theo Khoản 2 Điều 91, người dưới 18 tuổi bắt buộc phải chịu một trong các biện pháp giám sát, giáo dục như khiển trách, hòa giải tại cộng đồng. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với việc miễn TNHS cho người đã thành niên, nhằm đảm bảo người phạm tội vẫn được quản lý và hỗ trợ để tái hòa nhập cộng đồng một cách tích cực.

1.3. Ý nghĩa nhân đạo trong chính sách hình sự Việt Nam

Chế định này có ý nghĩa to lớn, thể hiện chính sách hình sự ưu việt của Việt Nam. Nó không chỉ đảm bảo mục tiêu đấu tranh phòng chống tội phạm mà còn tạo điều kiện cho người dưới 18 tuổi có cơ hội sửa chữa, phát triển lành mạnh. Việc quy định cụ thể các căn cứ miễn TNHS giúp hạn chế sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật, bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, nó khuyến khích người phạm tội ăn năn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả, góp phần xã hội hóa công tác giáo dục, phòng ngừa tội phạm. Đây cũng là sự cụ thể hóa cam kết của Việt Nam trong việc thực thi Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự.

II. Các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi

Pháp luật hình sự Việt Nam quy định nhiều căn cứ miễn trách nhiệm hình sự áp dụng cho mọi đối tượng phạm tội, bao gồm cả người dưới 18 tuổi, và những căn cứ đặc thù chỉ dành riêng cho nhóm đối tượng này. Việc phân định rõ ràng các trường hợp này giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở pháp lý vững chắc để đưa ra quyết định phù hợp, đảm bảo tính công bằng và nhân đạo. Các căn cứ chung được quy định rải rác trong Phần những quy định chung và Phần các tội phạm của BLHS 2015. Nổi bật nhất là các trường hợp quy định tại Điều 16 (Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội) và Điều 29. Điều 29 BLHS 2015 quy định các trường hợp miễn TNHS bắt buộc (do thay đổi chính sách, pháp luật; do có quyết định đại xá) và các trường hợp có thể được miễn TNHS (do chuyển biến tình hình; người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo; tự thú và lập công lớn...). Bên cạnh đó, căn cứ đặc thù và được áp dụng phổ biến nhất đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là Khoản 2 Điều 91 BLHS 2015. Quy định này cho phép miễn TNHS khi người phạm tội đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện như: phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng (đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi) hoặc một số tội rất nghiêm trọng (đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi), có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục hậu quả và đủ điều kiện áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục. Việc hiểu và vận dụng đúng các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự này là yêu cầu bắt buộc để thực hiện hiệu quả chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

2.1. Phân tích các trường hợp miễn TNHS theo quy định chung

Các quy định chung về miễn trách nhiệm hình sự áp dụng cho cả người đã thành niên và người dưới 18 tuổi. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16) là trường hợp được miễn TNHS một cách đương nhiên. Theo Điều 29 BLHS 2015, các trường hợp miễn TNHS bao gồm: do sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi không còn nguy hiểm; khi có quyết định đại xá; khi người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội do chuyển biến tình hình; hoặc khi người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng do vô ý đã hòa giải thành với bị hại. Các quy định này thể hiện sự linh hoạt của pháp luật, cho phép chấm dứt việc truy cứu TNHS khi mục đích của hình phạt không còn cần thiết.

2.2. Quy định đặc thù tại Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015

Khoản 2 Điều 91 BLHS 2015căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đặc thù, chỉ áp dụng cho người dưới 18 tuổi phạm tội. Điều kiện để được xem xét miễn TNHS theo quy định này rất cụ thể: (1) Thuộc các trường hợp phạm tội được liệt kê (ví dụ: người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng); (2) Có nhiều tình tiết giảm nhẹ (từ hai tình tiết trở lên); (3) Tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả; (4) Không thuộc trường hợp được miễn TNHS theo Điều 29; và (5) Đủ điều kiện áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục. Đây là quy định thể hiện rõ nhất chính sách ưu tiên giáo dục, tạo cơ hội cho người phạm tội vị thành niên sửa chữa lỗi lầm mà không cần thông qua thủ tục tố tụng hình sự đầy đủ.

2.3. Các trường hợp miễn TNHS quy định tại Phần các tội phạm

Ngoài các quy định chung, Phần các tội phạm của BLHS 2015 còn quy định một số trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cụ thể đối với một số tội danh mà người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi có thể thực hiện. Ví dụ, người đã nhận làm gián điệp nhưng không thực hiện nhiệm vụ và tự thú thì được miễn TNHS (Khoản 4 Điều 110). Người đưa hối lộ hoặc môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác có thể được miễn TNHS (Khoản 7 Điều 364, Khoản 6 Điều 365). Người không tố giác tội phạm nhưng đã có hành động can ngăn hoặc hạn chế tác hại của tội phạm cũng có thể được xem xét miễn TNHS (Khoản 2 Điều 390). Những quy định này nhằm khuyến khích người phạm tội hợp tác với cơ quan chức năng và ngăn chặn hậu quả.

III. Thực tiễn áp dụng miễn TNHS cho người dưới 18 tuổi 2017 2021

Giai đoạn 2017-2021, sau khi BLHS 2015 có hiệu lực, thực tiễn áp dụng quy định về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng bộc lộ không ít hạn chế. Thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho thấy, trong 5 năm, toàn quốc đã khởi tố 19.564 người dưới 18 tuổi, chiếm khoảng 3,5% tổng số người bị khởi tố. Số liệu này phản ánh tình hình tội phạm vị thành niên vẫn diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định về miễn TNHS đã thể hiện rõ chính sách nhân đạo. Tỷ lệ bị can dưới 18 tuổi được miễn TNHS trong giai đoạn điều tra và truy tố có xu hướng tăng, cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng đã nhận thức và vận dụng tốt hơn các quy định pháp luật, đặc biệt là Điều 91 BLHS 2015. Việc này không chỉ giúp giảm tải cho hệ thống tư pháp mà còn tránh được những tác động tiêu cực của việc giam giữ, xét xử đối với tâm lý của người chưa thành niên. Mặc dù vậy, thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc. Việc xác định các điều kiện như “có nhiều tình tiết giảm nhẹ” hay “vai trò không đáng kể” đôi khi còn mang tính chủ quan, thiếu thống nhất. Sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả, dẫn đến khó khăn khi quyết định miễn trách nhiệm hình sự.

3.1. Thống kê số liệu khởi tố và truy tố người dưới 18 tuổi

Theo số liệu thống kê trong luận văn, từ năm 2017 đến 2021, tổng số người dưới 18 tuổi bị khởi tố là 19.564 và bị truy tố là 16.892. Các tội danh phổ biến nhất bao gồm trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích, cướp giật tài sản và gây rối trật tự công cộng. Đáng chú ý, tỷ lệ các bị can được miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn điều tra dao động từ 7,5% đến 12,2%, và trong giai đoạn truy tố từ 1,9% đến 3,3% qua các năm. Các con số này cho thấy chế định miễn TNHS đã được áp dụng trong thực tế, góp phần hiện thực hóa chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

3.2. Những kết quả đạt được trong công tác xét xử và điều tra

Thực tiễn cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng đã ngày càng chú trọng hơn đến việc áp dụng các quy định có lợi cho người dưới 18 tuổi. Việc miễn TNHS, đặc biệt theo Khoản 2 Điều 91 BLHS 2015, đã giúp nhiều trường hợp phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng có cơ hội làm lại cuộc đời mà không phải trải qua quá trình xét xử nặng nề. Điều này phù hợp với tinh thần của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và Quy tắc Bắc Kinh. Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi ngày càng được chuyên môn hóa, đảm bảo các thủ tục tố tụng thân thiện và phù hợp với lứa tuổi.

3.3. Hạn chế và vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật

Bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn áp dụng còn tồn tại một số hạn chế. Nhận thức của một số cán bộ tiến hành tố tụng về chế định này chưa đầy đủ, dẫn đến việc áp dụng còn dè dặt hoặc không thống nhất. Việc xác định các điều kiện để miễn TNHS như “tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả” hay “vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm” vẫn còn thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết, gây khó khăn cho việc áp dụng. Ngoài ra, hiệu quả của các biện pháp giám sát, giáo dục tại cộng đồng còn hạn chế do thiếu nguồn lực và sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương, ảnh hưởng đến quyết định miễn TNHS của các cơ quan có thẩm quyền.

IV. Phương pháp áp dụng biện pháp giám sát giáo dục hiệu quả

Một trong những điểm mới và tiến bộ của BLHS 2015 là quy định về việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục như một điều kiện bắt buộc đi kèm khi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội theo Khoản 2 Điều 91. Các biện pháp này bao gồm: khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, và giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Đây không phải là hình phạt mà là các biện pháp thay thế, mang tính chất giáo dục, phòng ngừa, nhằm giúp người phạm tội nhận thức lỗi lầm và tự sửa chữa trong môi trường cộng đồng quen thuộc. Mối quan hệ giữa miễn TNHS và các biện pháp này là mối quan hệ nhân quả và không thể tách rời: chỉ khi đủ điều kiện áp dụng một biện pháp giám sát, giáo dục thì mới có thể ra quyết định miễn TNHS. Để áp dụng hiệu quả, cần có sự đồng ý của người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Vai trò của gia đình, nhà trường, và các tổ chức xã hội là cực kỳ quan trọng. Gia đình cần là điểm tựa, phối hợp chặt chẽ với chính quyền để quản lý, động viên con em mình. Cộng đồng cần có cái nhìn bao dung, tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập thay vì kỳ thị. Phương pháp áp dụng hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, sự đầu tư về nguồn lực và con người, cũng như việc xây dựng các quy trình giám sát, đánh giá cụ thể để đảm bảo các biện pháp này thực sự phát huy tác dụng giáo dục, ngăn ngừa tái phạm, và hiện thực hóa mục tiêu của chính sách nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam.

4.1. Mối quan hệ giữa miễn TNHS và biện pháp giám sát giáo dục

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 BLHS 2015, việc áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục là điều kiện tiên quyết và đồng thời với quyết định miễn trách nhiệm hình sự. Nếu không thể áp dụng các biện pháp này (ví dụ, do gia đình không hợp tác, đối tượng không có nơi cư trú ổn định), thì không thể miễn TNHS theo căn cứ này. Mối quan hệ này đảm bảo rằng sau khi được khoan hồng, người dưới 18 tuổi vẫn nằm trong sự quản lý, giáo dục của gia đình và xã hội, ngăn chặn nguy cơ tái phạm, thay vì bị bỏ rơi không có sự giám sát.

4.2. Các hình thức giám sát giáo dục Khiển trách và hòa giải

Các biện pháp giám sát, giáo dục được quy định cụ thể tại Điều 93, 94, 95 BLHS 2015. Khiển trách là biện pháp nhẹ nhất, áp dụng với các trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, thể hiện sự răn đe của cơ quan nhà nước trước sự chứng kiến của gia đình. Hòa giải tại cộng đồng được áp dụng khi người bị hại hoặc đại diện của họ đồng ý, nhằm giải quyết mâu thuẫn, giúp người phạm tội bồi thường thiệt hại và nhận được sự tha thứ, qua đó phục hồi các mối quan hệ xã hội. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp nghiêm khắc hơn, có sự giám sát chặt chẽ của chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể.

4.3. Vai trò của gia đình và cộng đồng trong quá trình giáo dục

Sự thành công của các biện pháp giám sát, giáo dục phụ thuộc rất lớn vào vai trò của gia đình và cộng đồng. Gia đình phải là chủ thể chính trong việc giáo dục, quản lý và động viên con em mình. Cộng đồng, bao gồm nhà trường, tổ dân phố, và các đoàn thể, cần tạo ra một môi trường lành mạnh, không kỳ thị, và tích cực hỗ trợ người dưới 18 tuổi sửa chữa lỗi lầm, học tập, rèn luyện để trở thành công dân có ích. Nếu thiếu đi sự chung tay này, các biện pháp dù được quy định chặt chẽ trong luật cũng khó có thể đạt được hiệu quả như mong đợi.

V. Bí quyết hoàn thiện quy định miễn trách nhiệm hình sự hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi là yêu cầu cấp thiết. Dựa trên phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng, có thể đề xuất một số giải pháp trọng tâm. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS 2015. Cần có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng hơn về các khái niệm còn định tính như “vai trò không đáng kể”, “khắc phục phần lớn hậu quả” để đảm bảo áp dụng thống nhất trên toàn quốc. Thứ hai, việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ người tiến hành tố tụng là bí quyết then chốt. Cần tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về tư pháp người chưa thành niên, trang bị cho họ không chỉ kiến thức pháp luật mà còn cả kỹ năng tâm lý, xã hội học. Thứ ba, tăng cường công tác phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là yếu-tố-sống-còn. Sự phối hợp chặt chẽ ngay từ đầu sẽ giúp đánh giá toàn diện vụ việc và đưa ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự kèm theo biện pháp giám sát, giáo dục phù hợp nhất. Cuối cùng, cần đẩy mạnh vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội, tạo nên một mạng lưới hỗ trợ vững chắc, giúp người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng và hiện thực hóa đầy đủ chính sách nhân đạo của pháp luật.

5.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự liên quan

Cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết của Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan liên ngành về việc áp dụng Điều 91 và các điều khoản liên quan trong BLHS 2015. Việc làm rõ các tiêu chí định tính sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ vững chắc hơn khi ra quyết định, tránh tình trạng mỗi nơi hiểu và áp dụng một kiểu. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, bổ sung các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trên thực tế.

5.2. Nâng cao năng lực của người tiến hành tố tụng hình sự

Giải pháp cốt lõi là đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp hình sự liên quan đến người dưới 18 tuổi. Người tiến hành tố tụng không chỉ cần vững về pháp luật mà còn phải am hiểu tâm lý lứa tuổi, có kỹ năng làm việc thân thiện với trẻ em. Việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự, trong đó có miễn trách nhiệm hình sự, sẽ giúp họ mạnh dạn và chủ động hơn trong việc áp dụng các quy định nhân đạo của pháp luật.

5.3. Tăng cường công tác hướng dẫn và phối hợp liên ngành

Hiệu quả của việc miễn trách nhiệm hình sự phụ thuộc lớn vào sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, cũng như các cơ quan, tổ chức ở địa phương. Cần xây dựng quy chế phối hợp liên ngành cụ thể trong việc trao đổi thông tin, đánh giá nhân thân người phạm tội, và theo dõi, giám sát quá trình thực hiện các biện pháp giám sát, giáo dục. Việc tăng cường công tác tổng kết thực tiễn áp dụng và hướng dẫn nghiệp vụ sẽ giúp tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc từ cơ sở.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/07/2025
Miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự việt nam luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LY LUAN VA QUY DINH CUA PHAP LUAT VE MIEN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CHO NGUOI DUOI 18 TUOI PHAM TOI 1. Lý luận về miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với các khái niệm trách nhiệm hình sự đối với cá nhân phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, người dưới 18 tuổi phạm tdi. Việc xây dựng khái niệm và tìm ra đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi không thể tách rời các khái niệm nói trên.

Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự là hai chế định của luật hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trách nhiệm hình sự là chế định trung tâm, quan trọng, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và chi phối các quy phạm của Bộ luật Hình sự bao gồm cả Phần những quy định chung và Phần các tội phạm. Trong sách báo, cũng như thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật ngữ "trách nhiệm" được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào lĩnh vực hoặc ngữ cảnh cụ thể. Thông thường, “trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, ở khía cạnh tích cực, trách nhiệm là bốn phận, nghĩa vụ hay công việc được giao, nó bao hàm cả quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định của một người, một tổ chức trước người hay tô chức khác, trước Nhà nước hoặc trước xã hội.

Ví dụ, trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường sống: trách nhiệm của bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái, v. Thứ hai, ở khía cạnh tiêu cực, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người hoặc một tô chức phải gánh chịu trước người hoặc tổ chức khác, trước Nhà nước hay trước xã hội do đã thực hiện hành vi vi phạm bốn phận, nghĩa vu cua minh [33, tr. Trách nhiệm hình sự, với tư cách là một dạng của trách nhiệm pháp lý, được dùng theo nghĩa thứ hai và là dạng pháp lý đặc biệt nghiêm khắc so với trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hành chính. Xung quanh khái niệm trách nhiệm hình sự vẫn còn những quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là một loại quan hệ pháp luật giữa Nhà nước và người phạm tội. Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước của người phạm tội do việc người đó thực hiện tội phạm. Thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm là thời điểm bắt đầu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội nhưng không có nghĩa người phạm tội nào cũng đều phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong nhiều trường hợp theo quy định của pháp luật hình sự, người phạm tội không bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự, đó là những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự. Do vậy không thể đồng nhất nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hình sự mà một người phải chịu trên thực tế do việc thực hiện tội phạm. Quan điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là tổng hợp các quyên và nghĩa vụ của Nhà nước và người phạm tội, được thể hiện ở các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự mà luật hình sự quy định, áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, bao gồm hình phạt và các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự khác không phải hình phạt và được bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người. Theo nhận định này, trách nhiệm hình sự bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người, nghĩa là từ khi khởi tố bị can, vậy, phải chăng trước khi có bản 10 án mà Tòa án tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với một người, người đó đã phải chịu một phần trách nhiệm hình sự? Điều này là không hợp lý.

Nếu người phạm tội đã phải chịu trách nhiệm hình sự trước khi có bản án của Tòa án, thì Tòa án sẽ không thể nhân danh Nhà nước tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối người đó tại phiên tòa. Quan điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Quan điểm này thực chất đã thu hẹp nội dung của trách nhiệm hình sự. Như chúng ta đã biết, trong số các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước có tính chất pháp lý hình sự áp dụng đối với người phạm tội thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu và nghiêm khắc nhất.

Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự và hình phạt là những khái niệm không đồng nhất. Trách nhiệm hình sự là một chế định pháp lý, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp đề thực hiện, đề cụ thể hóa trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự, theo luật hình sự Việt Nam, đã được phân ra thành hai loại: loại có hình phạt và loại không có hình phạt (miễn hình phạt). Quan điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và được thể hiện trước hết ở việc kết án của Tòa án, nhân danh Nhà nước, đối với người phạm tội.

Đây có lẽ là quan điểm thể hiện rõ ràng nhất bản chất của thuật ngữ “trách nhiệm hình sự”. Trách nhiệm hình sự chỉ tồn tại trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa một bên là Nhà nước, còn bên kia là chủ thể phạm tội và chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật mà các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải thực hiện. Trách nhiệm hình sự trước hết được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bởi lẽ bản án kết tội có hiệu lực pháp luật là căn cứ xác nhận người phạm tội bị 11 coi là có tội.

Tòa án ra bản án kết tội một người có thê kèm với việc quyết định hình phạt hoặc miễn hình phạt đối với người đó, tương ứng là hai dạng trách nhiệm hình sự: trách nhiệm hình sự có hình phạt và trách nhiệm hình sự không có hình phạt. Trong trường hợp bản án kết tội một người có tuyên hình phạt thì trách nhiệm hình sự không chỉ thê hiện ở việc người đó bị kết án, bị coi là có tội mà còn thể hiện ở loại và mức hình phạt cụ thể và dấu hiệu án tích của người có tội (trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bỗ sung năm 2017) đó là người đó bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng). Ngoài ra, trách nhiệm hình sự còn có thể được thể hiện ở các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người phạm tội. Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2017) quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự của cá nhân như sau: “7.

Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, có thể thấy, cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với cá nhân phạm tội chính là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Hay nói cách khác, để xác định trách nhiệm hình sự đối với một cá nhân phạm tội đòi hỏi phải xác định được hành vi mà người đó thực hiện thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được Bộ luật Hình sự quy định. Với cùng quan điểm như trên về “trách nhiệm hình sự”, nhưng cách xây dựng khái niệm của các nhà khoa học lại có sự khác nhau và tất cả đều có sự thống nhất về bản chất và hình thức thê hiện của trách nhiệm hình sự.TSKH Lê Cảm đã định nghĩa: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thê hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội 12 một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định [5, tr.TSKH Đào Trí Úc: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước [35, tr.

Từ sự tìm hiểu các quan điểm khác nhau trên đây kết hợp với việc nhận thức một số vấn đề có liên quan đến trách nhiệm hình sự của cá nhân phạm tội, tôi đồng ý với quan điểm cho răng: Trách nhiệm hình sự của cá nhân phạm tội là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm, được thê hiện ở bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định [33, tr. Khái niệm miễn TNHS được xây dựng dựa trên nền tảng của khái niệm TNHS. Nếu trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi của hành vi phạm tội thì miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi phạm tội này nếu có những căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Giống với người phải chịu trách nhiệm hình sự, người được miễn trách nhiệm hình sự là người đã thực hiện tội phạm, tức là đã thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Không thể áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người không thực hiện hành vi thỏa mãn dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự. Từ thời điểm thực hiện tội phạm, người phạm tội có nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm hình sự, tuy nhiên nếu xét thấy không cân thiết phải buộc người đó phải chịu trách nhiệm 13 hình sự, mà vẫn bảo đảm yêu cầu công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội, cũng như đấu tranh phòng chống tội phạm người đó được miễn trách nhiệm hình sự, lúc này, trách nhiệm hình sự chấm dứt. Xung quanh khái nệm miễn trách nhiệm hình sự vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau, cụ thể: GS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ đề cập đến việc miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, phân tích cơ sở pháp lý, các tình trạng giảm nhẹ trách nhiệm và các biện pháp giáo dục, phục hồi thay vì hình phạt nghèo nheo. Nghiên cứu này giúp người đọc hiểu rõ về hướng xử lý nhân đạo, đồng thời cung cấp nguồn thực tiễn để hoàn thiện quy định về xử lý少年범. Để làm sâu hơn vấn đề, bạn có thể tham khảo tình trạng giảm nhẹ trách nhiệm, bảo vệ quyền con ngườiáp dụng pháp luật.