Luận văn mặt chủ quan tội phạm - Nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu mặt chủ quan tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, phân tích lỗi, động cơ, mục đích phạm tội qua thực tiễn Đắk Lắk.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2015

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về mặt chủ quan tội phạm luật hình sự Việt Nam

Mặt chủ quan tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam. Yếu tố này phản ánh thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra. Theo luận văn của Hoàng Thị Cẩm Vân (2015), mặt chủ quan không chỉ có vai trò xác định tính phạm tội mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc định khung hình phạt và quyết định hình phạt cụ thể. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc xác định sai mặt chủ quan có thể dẫn đến oan sai, vi phạm quyền con người và làm suy giảm niềm tin vào hệ thống tư pháp. Mặt chủ quan bao gồm các dấu hiệu pháp lý như lỗi (cố ý hoặc vô ý), động cơ phạm tội, mục đích phạm tội, và các trường hợp không có lỗi. Việc phân tích và chứng minh đầy đủ các dấu hiệu này là điều kiện bắt buộc để kết luận một hành vi có phải là tội phạm hay không. Đặc biệt, theo Hiến pháp năm 2013, quyền con người được ghi nhận rõ ràng, do đó yêu cầu về tính chính xác và minh bạch trong xác định mặt chủ quan càng trở nên cấp thiết.

1.1. Khái niệm và vai trò của mặt chủ quan trong cấu thành tội phạm

Mặt chủ quan là yếu tố phản ánh trạng thái tâm lý bên trong của người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Theo Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), cấu thành tội phạm gồm bốn yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Trong đó, mặt chủ quan giúp xác định mức độ lỗiý chí của người phạm tội, từ đó phân biệt giữa hành vi phạm tội và hành vi vô ý không có tính chất phạm tội. Nếu thiếu yếu tố này, hành vi dù gây hậu quả nghiêm trọng vẫn không bị coi là tội phạm.

1.2. Các dấu hiệu pháp lý thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Các dấu hiệu chính bao gồm: lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý gián tiếp, lỗi vô ý do quá tự tin, và lỗi vô ý do cẩu thả. Ngoài ra, một số tội phạm còn yêu cầu có động cơ hoặc mục đích phạm tội như dấu hiệu bắt buộc. Ví dụ, trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS), mục đích chiếm đoạt là yếu tố cấu thành. Việc thiếu hoặc xác định sai các dấu hiệu này có thể dẫn đến sai lệch trong định tội và xử lý hình sự.

II. Thách thức trong xác định mặt chủ quan tội phạm tại Việt Nam

Việc xác định mặt chủ quan tội phạm gặp nhiều khó khăn do tính chất trừu tượng và không thể quan sát trực tiếp. Theo nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Đắk Lắk (Hoàng Thị Cẩm Vân, 2015), nhiều vụ án bị xử lý sai do cơ quan tố tụng không chứng minh đầy đủ yếu tố lỗi hoặc nhầm lẫn giữa lỗi cố ý và lỗi vô ý. Một số thẩm phán và điều tra viên còn áp dụng cách hiểu chủ quan, thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng sai cấu thành tội phạm. Đặc biệt, trong các vụ án liên quan đến tai nạn giao thông, tranh chấp đất đai, hay xâm phạm tính mạng, việc phân biệt giữa lỗi vô ý do cẩu thảhành vi cố ý thường bị bỏ qua hoặc suy diễn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can mà còn làm giảm tính răn đe và công bằng của pháp luật hình sự. Ngoài ra, quy định pháp luật về mặt chủ quan còn thiếu thống nhất, chưa có hướng dẫn cụ thể từ Tòa án Nhân dân Tối cao, gây khó khăn cho việc áp dụng đồng bộ trên cả nước.

2.1. Thực trạng nhầm lẫn giữa lỗi cố ý và lỗi vô ý

Nhiều vụ án tại Đắk Lắk cho thấy sự nhầm lẫn phổ biến giữa lỗi cố ý gián tiếplỗi vô ý do quá tự tin. Trong khi lỗi cố ý gián tiếp là khi người phạm tội thấy trước hậu quả nhưng vẫn thực hiện hành vi với thái độ chấp nhận, thì lỗi vô ý do quá tự tin là khi tin rằng hậu quả có thể tránh được. Sự khác biệt này mang tính quyết định trong việc xác định tội danh và mức hình phạt.

2.2. Thiếu hướng dẫn áp dụng thống nhất từ cơ quan tư pháp

Hiện nay, Bộ luật Hình sự chưa có điều khoản giải thích rõ ràng về cách xác định động cơ phạm tội hoặc mục đích phạm tội trong từng tội danh cụ thể. Các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật còn rời rạc, dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các địa phương. Điều này làm giảm tính dự báo và minh bạch của pháp luật hình sự.

III. Phương pháp xác định lỗi trong cấu thành tội phạm hiệu quả

Để xác định chính xác lỗi – yếu tố cốt lõi của mặt chủ quan – cần áp dụng phương pháp tiếp cận đa chiều, kết hợp giữa chứng cứ khách quan và lời khai chủ quan của người phạm tội. Theo học thuyết pháp lý hình sự, lỗi chỉ tồn tại khi có sự kết hợp giữa nhận thức và ý chí. Trong thực tiễn, cơ quan điều tra cần thu thập đầy đủ chứng cứ về hoàn cảnh phạm tội, mối quan hệ giữa các bên, hành vi trước – trong – sau khi gây hậu quả. Ví dụ, nếu người phạm tội có hành động che giấu, bỏ trốn, hoặc tiêu hủy chứng cứ ngay sau khi gây án, điều này có thể là căn cứ để xác định lỗi cố ý. Ngược lại, nếu người phạm tội tích cực cứu chữa nạn nhân hoặc trình báo ngay, có thể nghiêng về lỗi vô ý. Ngoài ra, cần tham khảo ý kiến của chuyên gia tâm lý hoặc pháp y trong các vụ án phức tạp. Việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá lỗi theo từng nhóm tội phạm sẽ giúp nâng cao tính chuẩn hóa trong thực tiễn tố tụng.

3.1. Phân biệt các loại lỗi theo quy định pháp luật

Bộ luật Hình sự 2015 quy định rõ bốn loại lỗi: cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý do quá tự tin, và vô ý do cẩu thả. Mỗi loại lỗi có đặc điểm nhận diện riêng. Ví dụ, lỗi cố ý trực tiếp xuất hiện khi người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra, trong khi lỗi vô ý do cẩu thả là khi không thấy trước hậu quả mặc dù phải thấy trước.

3.2. Ứng dụng chứng cứ gián tiếp để chứng minh lỗi

Do lỗi là trạng thái tâm lý, không thể quan sát trực tiếp, nên cần dựa vào chứng cứ gián tiếp như hành vi sau khi gây án, thái độ với nạn nhân, hoặc lời khai mâu thuẫn. Các chứng cứ này phải được đánh giá tổng hợp, tránh suy diễn chủ quan.

IV. Hướng dẫn xác định động cơ và mục đích phạm tội chính xác

Động cơ phạm tộimục đích phạm tội là hai dấu hiệu thuộc mặt chủ quan, không phải lúc nào cũng bắt buộc nhưng lại có vai trò then chốt trong một số tội danh. Động cơ là nguyên nhân thúc đẩy người phạm tội hành động (ví dụ: vì thù hằn, vì lợi ích cá nhân), trong khi mục đích là kết quả mà người phạm tội mong muốn đạt được (ví dụ: chiếm đoạt tài sản, làm chết người). Theo nghiên cứu tại Đắk Lắk, nhiều vụ án bị xử sai do không phân biệt rõ hai khái niệm này hoặc bỏ qua khi chúng là dấu hiệu cấu thành bắt buộc. Ví dụ, trong tội giết người (Điều 123 BLHS), mục đích tước đoạt mạng sống là yếu tố cốt lõi. Nếu không chứng minh được mục đích này, hành vi có thể chỉ là cố ý gây thương tích. Do đó, cần xây dựng hướng dẫn cụ thể cho từng tội danh yêu cầu động cơ hoặc mục đích, đồng thời đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ điều tra viên và thẩm phán.

4.1. Phân biệt động cơ và mục đích phạm tội trong thực tiễn

Động cơ là lý do bên trong thúc đẩy hành vi, còn mục đích là kết quả mong muốn. Một hành vi có thể có nhiều động cơ nhưng chỉ có một mục đích. Ví dụ, giết người vì ghen tuông (động cơ) nhằm loại bỏ đối thủ (mục đích). Việc xác định đúng giúp phân loại tội danh và mức độ nguy hiểm cho xã hội.

4.2. Vai trò của động cơ mục đích trong định khung hình phạt

Theo Điều 52 BLHS, động cơ phạm tội là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nếu phạm tội vì động cơ đê hèn (như vì tiền), mức phạt sẽ nặng hơn so với phạm tội trong hoàn cảnh bức xúc. Do đó, việc làm rõ động cơ không chỉ định tội mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến mức án.

V. Ứng dụng thực tiễn Bài học từ tỉnh Đắk Lắk về mặt chủ quan tội phạm

Nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Đắk Lắk (2010–2014) do Hoàng Thị Cẩm Vân thực hiện đã chỉ ra nhiều sai sót trong việc xác định mặt chủ quan tội phạm. Trong 120 vụ án được khảo sát, có tới 27 vụ (22,5%) bị xác định sai về lỗi, chủ yếu do thiếu chứng cứ hoặc suy diễn chủ quan. Một số vụ án giết người bị xử lý như cố ý gây thương tích do không chứng minh được mục đích tước đoạt mạng sống. Ngược lại, một số trường hợp tai nạn giao thông lại bị truy tố về tội giết người do không phân biệt được lỗi vô ýhành vi cố ý. Từ thực tiễn này, Đắk Lắk đã đề xuất một số giải pháp như: tăng cường đào tạo chuyên môn cho cán bộ điều tra, xây dựng sổ tay hướng dẫn xác định mặt chủ quan theo nhóm tội phạm, và tổ chức hội thảo chuyên đề với sự tham gia của giảng viên luật và thẩm phán. Những bài học này có giá trị tham khảo cho các địa phương khác trong việc nâng cao chất lượng xét xử.

5.1. Phân tích sai sót điển hình trong các vụ án tại Đắk Lắk

Một vụ án điển hình là người dân đốt rẫy gây cháy lan, dẫn đến thiệt mạng. Ban đầu bị truy tố về tội giết người, nhưng sau khi xem xét lại, Tòa án xác định đây là lỗi vô ý do cẩu thả, do người dân không lường trước được nguy cơ cháy lan. Vụ việc cho thấy tầm quan trọng của việc phân tích kỹ lưỡng yếu tố lỗi.

5.2. Giải pháp địa phương để hoàn thiện xác định mặt chủ quan

Tỉnh Đắk Lắk đã triển khai mô hình phối hợp giữa Công an, Viện KSND và Tòa án để rà soát các vụ án có yếu tố mặt chủ quan phức tạp. Đồng thời, tổ chức tập huấn định kỳ về kỹ năng phân tích tâm lý phạm tộichứng cứ gián tiếp cho cán bộ tư pháp.

VI. Giải pháp hoàn thiện quy định về mặt chủ quan tội phạm trong tương lai

Để khắc phục những hạn chế hiện nay, cần hoàn thiện cả về mặt lập pháp và thực thi pháp luật. Trước hết, Bộ luật Hình sự cần xác định rõ khái niệm lỗi, động cơ, và mục đích phạm tội trong một điều luật riêng, thay vì rải rác ở nhiều điều. Thứ hai, Tòa án Nhân dân Tối cao nên ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất trên toàn quốc, đặc biệt với các tội danh có yếu tố mặt chủ quan phức tạp như giết người, lừa đảo, tham ô. Thứ ba, cần đưa nội dung phân tích mặt chủ quan vào chương trình đào tạo bắt buộc cho sinh viên luật, điều tra viên và thẩm phán. Cuối cùng, nên nghiên cứu áp dụng công nghệ hỗ trợ như phân tích dữ liệu hành vi hoặc AI trong đánh giá tâm lý phạm tội, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc suy đoán vô tội. Việc hoàn thiện mặt chủ quan không chỉ nâng cao chất lượng xét xử mà còn góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền và bảo vệ quyền con người theo tinh thần Hiến pháp 2013.

6.1. Hoàn thiện khái niệm và dấu hiệu pháp lý về lỗi

Cần bổ sung định nghĩa pháp lý rõ ràng cho từng loại lỗi, kèm theo ví dụ minh họa. Điều này giúp giảm thiểu suy diễn chủ quan và đảm bảo áp dụng đồng bộ trong thực tiễn tố tụng.

6.2. Đề xuất sửa đổi luật và hướng dẫn áp dụng thống nhất

Tòa án Nhân dân Tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết cách xác định động cơ đê hèn, mục đích chiếm đoạt, hoặc lỗi trong tình huống khẩn cấp, nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quan tư pháp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn mặt chủ quan của tội phạm trong luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SỞ VANDE 1 AN VỆ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PIHẠM. KHÁI NIỆM CẤU THÀNH TỘIPHẠM VÀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TÔI PHAM. Khải niệm cấu thành tội phạm - 7 1. Ý nghĩa của cấu thành tội phạm - - 11 1.

Cée yéu tố của cấu thành tội phạm. CÁC DẦU HIỆU THUỘC MAT CHU QUAN CUA TO] PHA. Dấu hiệu động cơ và mục đích phạm tội. Sai lắm vả ảnh hưởng sai lâm đối với trách nhiệm hình sự của người phạm tội 44 Chương 2: THỰC TIẾN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM-TRÊN ĐỊA BẢN TỈNI ĐẮK LẮK.

THỰC TIẾN XÁC ĐINIDẤUIIỆULỖI. Thực tiễn đánh giá lỗi để định tôi đanh. Thực tiễn đánh giá lỗi để định khung hình phạt, quyết định hình phạt 55 2. Thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS về các trường hợp không có lỗi, trường hợp hỗn hợp lẫ.

THỰC TIẾN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỘNG CƠ MỤC ĐÍCH PHẠM TỘI. 66 - "Cấu thành tội phạm, 1ð luận và thực tiễn", NXĐ. Tư pháp, 2004 của PGS.1S Nguyễn Ngọc Hòa; - "Những vẫn dễ cơ bản trong khoa bọc Luột hình sự" (Phần chung), NXE. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 của GS.TSKH Lé Cam Ngoài ra còn một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngảnh.

Tuy nhiền, các công trình nghiền cứu kể trên chỉ tập trung vào nội dung chung về cầu thành tội phạm trong pháp luật hình sự , các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm có giả trị định tội mà chưa phân tích sâu vảo giá trị xác minh tính nguy hiểm cho xã hội của các tỉnh tiết này trong hoạt động định khung hình phạt và quyết định hình phạt. Da đó, với để tài “Ađặt chủ quan của tội phạm trong Hộ Luật Hình sự Liệt Nam. — Trên cơ sở thực tiền tại Đắk LÄk ” xả Lắc giả lựa chọn nghiên cửu lả công trình đầu tiên được thực hiện một cách chuyên sâu tập trung nghiên cứu một cách toà n diện tật cả các đầu hiện thuộc mặt chú quan của tội phạm , xem xét dưới góc độ định tội , định khung, hình phạt cũng như quyết định hình phạt _, không chỉ trong phần chung của Bộ Luật Hình sự má cèn trong phần các tôi phạ m cụ thể, đồng thời kết hợp với sự phân tích, dánh giá thực trạng áp đụng các quy định về mặt chủ quan của tội phạm trong các vụ án hình sự trên địa bản tỉnh Đắk Lắk sẽ gó p phẩn làm rõ hơn thực tiễn áp đụng các quy định trên và đưa ra những kiến nghị có tính khả thi nhất 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.

Mạc dịch nghiên cứu - Mục đích của luận văn là làm sáng Lỗ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản các nội đưng thuộc mặt chủ quan của tội phạm trong luật hỉnh sự Việt Ham; - Tìm ra những điểm bất cập, chưa hợp lý trong các quy định về mặt chủ quan của tội phạm, trên cơ sở đó đưa ra những, đề xuất thiết trực nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về mặt chủ quan của tôi phạm MỜ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhân thức tội phạm là một hiện tượng xã hội _, là mặt trái cũ a sự phát triển xã tôi. Tuy nhiên đề loại bỏ tội phạm ra khỏi xã hội là một vấn để không thé va di ngược lại với quy luật tổn tại xã hội. Vì thế, chúng ta cần chú trọng đến hoạt động phỏng„ chống tội phạm sao cho hạ n chế dến một mức độ thắn nhật mả tội phạm đã , đang và sẽ xảy ra trên thực tế.

Với tỉnh thân đó, pháp luật hình sự đã ghi nhận và phản ánh tội phạm cụ thể “trong hệ thống pháp luật của nhà nước Công hoả xã hội chủ nghĩa Vĩ ệt Nam, Luật hình sự có vị trí rất quan trọng. lả một trong những công cụ sắc bón, hữu hiệu để đấu tranh phòng và chẳng lội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ các quan hệ xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làn chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bảo cdc din tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyễn, lợi ích hợp pháp của công đân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chỗng mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mợi người ý thứo tuân thco pháp luật, đầu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Chính vì vậy, Đăng và Nhà nước ta luôn quan điểm và ý thức dành sự quan tâm đặc biệt đên quá trinh xây dụng pháp luật hình sự củng với quá trình phát triển kinh tế — xã hột Năm 1985, BLHS5 Việt Nam đầu tiên được ban hành và có hiệu. lực thi hành thì cũng là lúc sự nghiệp đổi mới bắt đầu.

Sự thay đổi các mặt của đời sống xã hội, trong dé déi moi về kinh tế piữ vai trỏ quan trọng không chỉ là cơ sở mả còn là đòi hỏi cấp bách đối với sự thay đổi của pháp luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng. BLIIS năm 1985 với ý nghĩa là nguồn đuy nhất trong đó quy định tội phạm được xây dựng trên cơ sở kinh tế xã hội của nền kinh tế bao cấp và trên cơ sở thực tiễn của tình hình tội phạm của thời MỜ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhân thức tội phạm là một hiện tượng xã hội _, là mặt trái cũ a sự phát triển xã tôi. Tuy nhiên đề loại bỏ tội phạm ra khỏi xã hội là một vấn để không thé va di ngược lại với quy luật tổn tại xã hội.

Vì thế, chúng ta cần chú trọng đến hoạt động phỏng„ chống tội phạm sao cho hạ n chế dến một mức độ thắn nhật mả tội phạm đã , đang và sẽ xảy ra trên thực tế. Với tỉnh thân đó, pháp luật hình sự đã ghi nhận và phản ánh tội phạm cụ thể “trong hệ thống pháp luật của nhà nước Công hoả xã hội chủ nghĩa Vĩ ệt Nam, Luật hình sự có vị trí rất quan trọng. lả một trong những công cụ sắc bón, hữu hiệu để đấu tranh phòng và chẳng lội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ các quan hệ xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làn chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bảo cdc din tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyễn, lợi ích hợp pháp của công đân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chỗng mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mợi người ý thứo tuân thco pháp luật, đầu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Chính vì vậy, Đăng và Nhà nước ta luôn quan điểm và ý thức dành sự quan tâm đặc biệt đên quá trinh xây dụng pháp luật hình sự củng với quá trình phát triển kinh tế — xã hột Năm 1985, BLHS5 Việt Nam đầu tiên được ban hành và có hiệu.

lực thi hành thì cũng là lúc sự nghiệp đổi mới bắt đầu. Sự thay đổi các mặt của đời sống xã hội, trong dé déi moi về kinh tế piữ vai trỏ quan trọng không chỉ là cơ sở mả còn là đòi hỏi cấp bách đối với sự thay đổi của pháp luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng. BLIIS năm 1985 với ý nghĩa là nguồn đuy nhất trong đó quy định tội phạm được xây dựng trên cơ sở kinh tế xã hội của nền kinh tế bao cấp và trên cơ sở thực tiễn của tình hình tội phạm của thời - "Cấu thành tội phạm, 1ð luận và thực tiễn", NXĐ. Tư pháp, 2004 của PGS.1S Nguyễn Ngọc Hòa; - "Những vẫn dễ cơ bản trong khoa bọc Luột hình sự" (Phần chung), NXE.

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 của GS.TSKH Lé Cam Ngoài ra còn một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngảnh. Tuy nhiền, các công trình nghiền cứu kể trên chỉ tập trung vào nội dung chung về cầu thành tội phạm trong pháp luật hình sự , các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm có giả trị định tội mà chưa phân tích sâu vảo giá trị xác minh tính nguy hiểm cho xã hội của các tỉnh tiết này trong hoạt động định khung hình phạt và quyết định hình phạt. Da đó, với để tài “Ađặt chủ quan của tội phạm trong Hộ Luật Hình sự Liệt Nam. — Trên cơ sở thực tiền tại Đắk LÄk ” xả Lắc giả lựa chọn nghiên cửu lả công trình đầu tiên được thực hiện một cách chuyên sâu tập trung nghiên cứu một cách toà n diện tật cả các đầu hiện thuộc mặt chú quan của tội phạm , xem xét dưới góc độ định tội , định khung, hình phạt cũng như quyết định hình phạt _, không chỉ trong phần chung của Bộ Luật Hình sự má cèn trong phần các tôi phạ m cụ thể, đồng thời kết hợp với sự phân tích, dánh giá thực trạng áp đụng các quy định về mặt chủ quan của tội phạm trong các vụ án hình sự trên địa bản tỉnh Đắk Lắk sẽ gó p phẩn làm rõ hơn thực tiễn áp đụng các quy định trên và đưa ra những kiến nghị có tính khả thi nhất 3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mạc dịch nghiên cứu - Mục đích của luận văn là làm sáng Lỗ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản các nội đưng thuộc mặt chủ quan của tội phạm trong luật hỉnh sự Việt Ham; - Tìm ra những điểm bất cập, chưa hợp lý trong các quy định về mặt chủ quan của tội phạm, trên cơ sở đó đưa ra những, đề xuất thiết trực nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về mặt chủ quan của tôi phạm DANIIMỤC CÁC TỪ VIẾT TAT BLHS : Bộ luật hình sự BLTTDS Độ luật tổ lụng dân sự BLTTHS : Bộ luật 'Tổ tụng hình sự CTTP Cấu thành tội phạm TLHS Pháp luật hình sự TAND : Tòa án nhân dân THAHS Thi hành an hình sự TNHS "Trách nhiệm hình sự. TTHS :Tế tụng hỉnh sự - "Cấu thành tội phạm, 1ð luận và thực tiễn", NXĐ. Tư pháp, 2004 của PGS.1S Nguyễn Ngọc Hòa; - "Những vẫn dễ cơ bản trong khoa bọc Luột hình sự" (Phần chung), NXE.

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 của GS.TSKH Lé Cam Ngoài ra còn một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngảnh .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ