Luận văn: Tính chất quang và điện của màng polymer pha tạp hạt nano

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu tính chất quang điện của màng polymer dẫn pha tạp hạt nano vô cơ. Vật liệu và linh kiện nano tiên tiến.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

54
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Chƣơng 1 - Lý thuyết về polymer dẫn và cơ chế hoạt động của OLED

1.1. Cấu trúc vùng năng lƣợng của polymer dẫn và các hạt tải

1.2. Cấu trúc vùng năng lƣợng

1.3. Lý thuyết về sự hình thành exciton

1.4. Cơ chế truyền hạt tải qua tiếp xúc kim loại/polymer

1.5. Cấu trúc điện tử và năng lƣợng tại mặt tiếp giáp

1.6. Sự truyền dòng khối tới hạn (Bulk-limited transport)

1.7. Mô hình truyền điện tích “nhảy cóc” trong polymer dẫn

1.8. Sự dẫn dòng tiêm điện tích tới hạn

1.9. Tiếp xúc polymer/polymer và tiếp xúc oxit kim loại/polymer

1.10. Chất cho - Chất nhận điện tích (donor-acceptor). Phƣơng trình cơ bản Rehm-Weller

1.11. Cấu trúc năng lƣợng và điện tử của mặt tiếp xúc giữa chất cho/chất nhận (D/A)

1.12. Truyền điện tích. Lý thuyết truyền điện tử Marcus

1.13. Truyền năng lƣợng

1.14. Cấu trúc, cơ chế hoạt động và hiệu suất phát quang của OLED

2. Chƣơng 2 - Chế tạo mẫu

2.1. Chuẩn bị vật liệu, thiết bị và hóa chất

2.2. Tạo các dung dịch tổ hợp nanocomposit

2.3. Tạo màng bằng phƣơng pháp quay phủ (spin coating)

2.4. Nguyên lý quay phủ li tâm

2.5. Quay phủ li tâm các dung dịch polyme thuần nhất

2.6. Quay phủ li tâm màng polymer tổ hợp cấu trúc nano

2.7. Ủ nhiệt chân không

2.8. Tạo màng bằng phƣơng pháp bốc bay nhiệt chân không

3. Chƣơng 3 - Các phƣơng pháp nghiên cứu

3.1. Chụp ảnh bề mặt (SEM)

3.2. Phƣơng pháp đo phổ hấp thụ UV-Vis

3.3. Phƣơng pháp đo phổ quang-huỳnh quang (PL)

3.4. Đo đặc trƣng I-V của linh kiện

4. Chƣơng 4 - Kết quả và thảo luận

4.1. Ảnh SEM của các màng nanocomposit

4.2. Ảnh SEM màng tổ hợp PVK:MEH-PPV:nc-ZnO

4.3. Ảnh SEM màng tổ hợp PAni:nc-TiO2

4.4. Ảnh SEM màng tổ hợp PAni:nc-ZnO

4.5. Ảnh SEM màng tổ hợp PAni:QD-CdSe

4.6. Phổ hấp thụ UV-Vis của các màng nanocomposit

4.7. Phổ hấp thụ màng tổ hợp PVK:MEH-PPV:nc-ZnO

4.8. Phổ hấp thụ màng tổ hợp PAni:nc-TiO2

4.9. Phổ hấp thụ màng tổ hợp PAni:nc-ZnO

4.10. Phổ hấp thụ màng tổ hợp PAni:QD-CdSe

4.11. Phổ quang-huỳnh quang của các màng nanocomposit

4.12. Phổ phát quang màng tổ hợp PVK:MEH-PPV:nc-ZnO

4.13. Phổ phát quang màng tổ hợp PAni:nc-TiO2

4.14. Phổ phát quang màng tổ hợp PAni:nc-ZnO

4.15. Phổ phát quang màng tổ hợp PAni:QD-CdSe

4.16. Đặc trƣng I-V của các linh kiện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Màng Polymer Dẫn Điện Pha Tạp Nano Giới Thiệu

Màng polymer dẫn điện pha tạp nano là một lĩnh vực nghiên cứu đầy tiềm năng, kết hợp những ưu điểm của vật liệu polymer dẫn điệnvật liệu nano để tạo ra những vật liệu mới với những tính chất quang điện vượt trội. Việc đưa các hạt nano vào polymer matrix có thể cải thiện đáng kể độ dẫn điện của polymer, tính chất quang học, tính chất điện tử, và độ bền cơ học của vật liệu. Màng polymer dẫn điện là hợp chất hữu cơ, phân tử được xây dựng từ các vòng benzene, chuỗi carbon dài với liên kết đơn C-C và đôi C=C luân phiên. Polymer dẫn có độ rộng vùng cấm như bán dẫn vô cơ. Sự chồng chập quỹ đạo điện tử dẫn đến sự tách thành hai mức năng lượng: mức năng lượng liên kết π và mức năng lượng phản liên kết π . Mức năng lượng π gọi là mức HOMO (quỹ đạo phân tử điền đầy cao nhất), mức năng lượng π gọi là mức LUMO (quỹ đạo phân tử không điền đầy thấp nhất). Sự tách thành hai mức năng lượng này dẫn đến sự hình thành hai vùng năng lượng tương ứng LUMO và HOMO, chúng có tính chất giống như vùng dẫn và vùng hoá trị của bán dẫn vô cơ. Khe năng lượng được tạo thành giữa hai mức HOMO và LUMO gọi là vùng cấm của polymer dẫn. Khi nhận những kích thích phù hợp từ photon, điện trường…, các điện tử có thể nhảy từ mức HOMO lên mức LUMO tạo ra cặp điện tử-lỗ trống (exciton), trong khoảng thời gian ngắn (cỡ picô giây), cặp điện tử-lỗ trống (exciton) này tái hợp và phát quang (luminescence). Các nanocomposite polymer này hứa hẹn nhiều ứng dụng trong các thiết bị điện tử và quang điện tử polymer thế hệ mới, ví dụ như pin mặt trời polymer, điốt phát quang hữu cơ (OLED), transistor hữu cơ, và ứng dụng cảm biến. Nghiên cứu của Trương Văn Thịnh (2011) đã khảo sát tính chất quang điện của màng tổ hợp polymer dẫn pha tạp các hạt nano vô cơ, cho thấy tiềm năng của vật liệu này trong việc cải thiện hiệu suất của các linh kiện quang điện tử polymer.

1.1. Lý thuyết về Polymer Dẫn Điện và Cấu Trúc Vùng Năng Lượng

Polymer dẫn điện là hợp chất hữu cơ được cấu tạo từ các khối cơ bản là các vòng benzene, bao gồm các chuỗi carbon dài mà trong đó các liên kết đơn C-C và đôi C=C luân phiên kế tiếp nhau. Có thể nói rằng polymer dẫn là những đồng đẳng của benzene. Liên kết giữa các phân tử được thực hiện bằng lực Van der Waals và sự chồng chéo của các hàm sóng của điện tử. Polymer dẫn có độ rộng vùng cấm như bán dẫn vô cơ. Sự chồng chập quỹ đạo điện tử dẫn đến sự tách thành hai mức năng lượng: mức năng lượng liên kết π và mức năng lượng phản liên kết π . Mức năng lượng π được gọi là mức HOMO (quỹ đạo phân tử điền đầy cao nhất), mức năng lượng π được gọi là mức LUMO (quỹ đạo phân tử không điền đầy thấp nhất). Sự tách thành hai mức năng lượng này dẫn đến sự hình thành hai vùng năng lượng tương ứng LUMO và HOMO, chúng có tính chất giống như vùng dẫn và vùng hoá trị của bán dẫn vô cơ. Khe năng lượng được tạo thành giữa hai mức HOMO và LUMO được gọi là vùng cấm của polymer dẫn. Giá trị độ rộng vùng cấm của các polymer dẫn thường có giá trị vài eV. Khi nhận những kích thích phù hợp từ photon, điện trường…, các điện tử có thể nhảy từ mức HOMO lên mức LUMO tạo ra cặp điện tử-lỗ trống (exciton), trong khoảng thời gian ngắn (cỡ picô giây), cặp điện tử-lỗ trống (exciton) này tái hợp và phát quang.

1.2. Các Hạt Tải Điện trong Vật Liệu Polymer Dẫn Điện

Trong các vật liệu bán dẫn vô cơ truyền thống, các hạt cơ bản như điện tử, lỗ trống và các giả hạt như phonon, exciton…là những phần tử tham gia vào quá trình tải điện tích và dẫn truyền năng lượng. Với polymer dẫn, các chuẩn hạt là những phần tử tham gia vào qúa trình tải điện tích và dẫn truyền năng lượng trong các chuỗi polymer. Trong các bán dẫn vô cơ, các điện tích dịch chuyển bằng cách truyền các điện tử trong vùng dẫn và các lỗ trống trong vùng hóa trị. Tuy nhiên trong các polymer dẫn, thì cấu trúc chuỗi dẫn đến liên kết mạnh của các trạng thái điện tử, gây ra các dạng kích thích như các soliton, polaron và các bipolaron, các giả hạt này là các phần tử mang điện tích, chúng bị định xứ cục bộ hơn so với các bán dẫn truyền thống, do chúng bị giam giữ trong chuỗi polymer đơn. Các soliton, polaron và bipolaron có nhiệm vụ truyền điện tích, các exciton có nhiệm vụ truyền năng lượng.

II. Thách Thức Khó Khăn trong Chế Tạo Màng Polymer Dẫn Điện

Mặc dù có nhiều ưu điểm, việc chế tạo màng polymer dẫn điện pha tạp nano gặp phải một số thách thức lớn. Một trong những vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo sự phân tán đồng đều của các vật liệu nano trong polymer matrix. Sự kết tụ của các hạt nano có thể làm giảm hiệu quả của vật liệu và ảnh hưởng đến tính chất quang điện. Ngoài ra, quá trình tổng hợp màng polymer dẫn điện cần được kiểm soát chặt chẽ để đạt được độ dày và độ đồng nhất mong muốn. Các yếu tố như morphology, kích thước hạt nano, và tương tác giữa polymer và hạt nano đều ảnh hưởng đến charge transport, electron mobility, và hole mobility của vật liệu. Theo nghiên cứu của Trương Văn Thịnh (2011), để nâng cao hiệu suất và tuổi thọ của linh kiện OLED là rất cần thiết, hiệu suất phụ thuộc vào sự cân bằng giữa tốc độ tiêm điện tử và lỗ trống từ các điện cực vào lớp polymer phát quang, sự kết hợp của các điện tử và lỗ trống để tạo ra exciton singlet trong lớp phát xạ và sự phân rã phát xạ của các exciton.

2.1. Vấn Đề Phân Tán Hạt Nano và Ảnh Hưởng tới Tính Chất Vật Liệu

Sự phân tán không đồng đều của các nanoparticle dispersion trong polymer matrix là một thách thức lớn. Các hạt nano có xu hướng kết tụ lại với nhau, làm giảm diện tích bề mặt tiếp xúc giữa hạt nano và polymer. Điều này ảnh hưởng đến khả năng truyền điện tích và năng lượng, dẫn đến giảm độ dẫn điện của polymer và hiệu suất của các thiết bị quang điện tử polymer. Các phương pháp để cải thiện sự phân tán bao gồm sử dụng các chất hoạt động bề mặt, biến đổi bề mặt hạt nano, và kiểm soát các thông số quá trình tổng hợp màng polymer dẫn điện.

2.2. Kiểm Soát Độ Dày và Độ Đồng Nhất của Màng Mỏng

Độ dày và độ đồng nhất của màng mỏng có ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất quang điện của vật liệu. Màng quá dày có thể làm tăng điện trở và giảm khả năng truyền ánh sáng, trong khi màng quá mỏng có thể không đủ để tạo ra hiệu ứng quang điện mong muốn. Các kỹ thuật như kỹ thuật chế tạo màng quay phủ, phun, và lắng đọng chân không có thể được sử dụng để kiểm soát độ dày và độ đồng nhất của màng polymer dẫn điện.

III. Phương Pháp Chế Tạo Màng Polymer Dẫn Điện Spin Coating

Để giải quyết những thách thức trên, nhiều phương pháp tổng hợp màng polymer dẫn điện pha tạp nano đã được phát triển. Một trong những phương pháp phổ biến nhất là sử dụng kỹ thuật quay phủ (spin coating). Kỹ thuật này cho phép tạo ra các màng mỏng với độ dày được kiểm soát và độ đồng nhất cao. Các hạt nano thường được phân tán trong dung dịch polymer trước khi được phủ lên bề mặt đế. Theo nghiên cứu của Trương Văn Thịnh (2011), việc ủ nhiệt chân không có vai trò quan trọng trong quá trình chế tạo mẫu, việc làm giảm mật độ điện trở của lớp điện cực ITO bằng việc ủ nhiệt ở nhiệt độ 3500C và thời gian ủ 2h và làm bay hơi dung môi hữu cơ còn sót lại sau quá trình tạo màng polymer, để kết tinh màng, tạo tính ổn định cho màng được thực hiện ở nhiệt độ ủ 800C và thời gian ủ 2h.

3.1. Quy Trình Quay Phủ Spin Coating Màng Polymer Dẫn Điện

Kỹ thuật quay phủ bao gồm các bước: phủ dung dịch polymer lên bề mặt đế, quay đế với tốc độ cao để dàn đều dung dịch, và làm khô màng bằng nhiệt hoặc chân không. Tốc độ quay và thời gian quay là các thông số quan trọng ảnh hưởng đến độ dày và độ đồng nhất của màng. Các yếu tố khác như nồng độ dung dịch polymer, độ nhớt, và nhiệt độ cũng cần được kiểm soát chặt chẽ. Có thể thấy rõ hơn vấn đề này hơn bởi các mô tả sau đây: Để thực hiện được sự “nhảy cóc”, các điện tích cần phải vượt qua hàng rào thế năng lượng hoạt hoá, với độ linh động được tuân theo phương trình tốc độ :  EA    exp    (1.11)  k BT  trong đó: EA: năng lượng hoạt hoá; kB : hằng số Boltzman;

3.2. Ảnh Hưởng của Tốc Độ Quay Phủ và Các Thông Số Khác

Tốc độ quay phủ ảnh hưởng trực tiếp đến độ dày của màng. Tốc độ quay cao hơn dẫn đến màng mỏng hơn, trong khi tốc độ quay thấp hơn dẫn đến màng dày hơn. Ngoài ra, các thông số khác như nồng độ dung dịch, độ nhớt, và nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến độ dày và độ đồng nhất của màng. Việc tối ưu hóa các thông số này là rất quan trọng để đạt được chất lượng màng mong muốn. Nghiên cứu của Chao-Ching Chang và cộng sự đã đưa ra đề xuất về sự phụ thuộc của chiều dày màng vào tốc độ quay là như nhau với mọi nồng độ khác nhau của polymer bằng các kết qủa nghiên cứu của mình.

3.3. Xử Lý Đế Thủy Tinh Quang Học và Tạo Điện Cực ITO

Quá trình xử lý đế thủy tinh quang học: Rửa sạch bằng nước rửa kính, rung siêu âm lần lượt với dung dịch C2H5OH, axeton, nước cất mỗi lần 15 phút, rồi sấy khô trong tủ sấy ở 700C. Tạo dãy điện cực ITO trên đế thủy tinh quang học: Sử dụng đế thủy tinh đã phủ lớp ITO được chế tạo bằng phương pháp phún xạ magnetron DC từ bia gốm ITO với thành phần khối lượng In2O3:SnO2 là 9:1, độ tinh khiết 99.99%, trong hệ tạo màng Univex 450, với áp suất nền 6 x 10-6 torr, khoảng cách bia đế 5 cm. Sau đó thực hiện ăn mòn tạo 2 dãy điện cực ITO trên đế thủy tinh quang học, các bước tiến hành như sau: cắt băng dính dán vào đế thủy tinh có phủ lớp ITO tạo 2 rãnh không bị dán xen kẽ, phủ kín lớp sơn nitrozen lên 2 rãnh này để khô 15 phút để tạo lớp mặt nạ, bóc băng dính, cho đế này ngâm vào dung dịch nước cường toan HCl:H2O:HNO3 tỉ lệ 4:2:1 (ml) trong 20 phút. Cuối cùng xử lý như đế thủy tinh quang học.

IV. Nghiên Cứu Khảo Sát Tính Chất Quang Điện Màng Polymer Dẫn Điện

Để đánh giá tính chất quang điện của màng polymer dẫn điện pha tạp nano, nhiều kỹ thuật đo đạc đã được sử dụng. Phổ hấp thụ UV-Vis được sử dụng để xác định khả năng hấp thụ ánh sáng của vật liệu. Phổ quang-huỳnh quang (PL) được sử dụng để nghiên cứu khả năng phát quang của vật liệu. Đo đặc trưng I-V được sử dụng để đánh giá khả năng dẫn điện của vật liệu và hiệu suất của các thiết bị điện tử. Nghiên cứu của Trương Văn Thịnh (2011) đã sử dụng các phương pháp này để khảo sát các màng nanocomposit và kết luận rằng hiệu suất phát quang đã được cải thiện đáng kể so với việc chế tạo OLED từ những vật liệu polymer thuần nhất.

4.1. Phép Đo Phổ Hấp Thụ UV Vis và Ứng Dụng

Phép đo phổ hấp thụ UV-Vis được thực hiện để xác định khả năng hấp thụ ánh sáng của vật liệu trong vùng tử ngoại và khả kiến. Dựa trên nguyên tắc : các bước sóng cực đại hấp thụ đặc trưng cho từng chất. Đây cũng là cơ sở của phép định tính. Độ hấp thụ các bức xạ phụ thuộc vào nồng độ của chất nghiên cứu trong dung dịch cần đo là cơ sở của phép định lượng. Kết quả phổ hấp thụ có thể cung cấp thông tin về band gap, tính chất quang học, và sự tương tác giữa polymer và hạt nano. Từ kết quả phổ hấp thụ ta cũng thấy khi nồng độ pha tạp ZnO tăng thì cường độ hấp thụ của màng tổ hợp giảm. Điều này có thể được giải thích bằng sự truyền các điện tử (bị kích thích dưới tác dụng của photon) từ nền polymer sang các hạt nano vô cơ, làm giảm số lượng các điện tử ở trạng thái bị kích thích trong nền polymer, dẫn đến sự suy giảm cường độ hấp thụ.

4.2. Phép Đo Phổ Quang Huỳnh Quang PL và Ứng Dụng

Phép đo phổ quang-huỳnh quang (PL) được thực hiện để nghiên cứu khả năng phát quang của vật liệu. Kết quả phổ PL có thể cung cấp thông tin về các trạng thái kích thích, hiệu ứng quang điện, và sự truyền năng lượng trong vật liệu. Khi pha tạp các hạt nc- TiO2 vào nền polymer dẫn làm cho cường độ phát quang của tổ hợp bị suy giảm. Nguyên nhân là do các hạt nano nc-TiO2 tạo ra biên tiếp xúc năng lượng hữu cơ/vô cơ. Hình thành các bẫy bắt điện tử từ polymer dẫn. Do vậy mà khi nồng độ nc-TiO2 càng lớn thì nồng độ điện tử bị kích ở polymer càng suy giảm làm cho cường độ phát quang suy giảm (hay gọi là hiện tượng dập tắt huỳnh quang).

4.3. Đo Đặc Trưng I V và Đánh Giá Khả Năng Dẫn Điện

Đo đặc trưng I-V là phương pháp quan trọng để đánh giá khả năng dẫn điện của vật liệu và hiệu suất của các thiết bị điện tử. Kết quả đo I-V có thể cung cấp thông tin về độ dẫn điện của polymer, electron mobility, hole mobility, và các đặc tính khác của vật liệu. Phép đo đặc trưng I-V cho thấy sự có mặt của các hạt nanô (hay chấm lượng tử) trong nền polymer có thể nâng cao hiệu suất cho linh kiện. Có thể giải thích nhận định này là do sự thay đổi hình thái học của linh kiện khi có các hạt nanô trong tổ hợp hoặc lai làm tăng khả năng xác suất tái hợp của điện tử - lỗ trống. Quá trình tiêm điện tích, đặc biệt là tiêm điện tử vào trong nền polymer trở nên tốt hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc làm giảm chiều cao rào thế tại các lớp tiếp xúc.

V. Ứng Dụng Màng Polymer Dẫn Điện Cơ Hội Ứng Dụng Thực Tế

Ứng dụng màng polymer dẫn điện pha tạp nano rất đa dạng và tiềm năng. Trong lĩnh vực điốt phát quang hữu cơ (OLED), vật liệu này có thể được sử dụng để cải thiện hiệu suất phát quang và tuổi thọ của thiết bị. Trong lĩnh vực pin mặt trời polymer, vật liệu này có thể được sử dụng để tăng hiệu suất chuyển đổi năng lượng. Ngoài ra, vật liệu này còn có thể được sử dụng trong các ứng dụng cảm biến, transistor hữu cơ, và nhiều lĩnh vực khác. Nghiên cứu của Trương Văn Thịnh (2011) cho thấy hiệu suất của linh kiện OLED được cải thiện đáng kể khi sử dụng màng tổ hợp polymer dẫn pha tạp nano so với vật liệu polymer thuần nhất.

5.1. Ứng Dụng trong Điốt Phát Quang Hữu Cơ OLED

Trong lĩnh vực OLED, màng polymer dẫn điện pha tạp nano có thể được sử dụng làm lớp phát quang, lớp truyền điện tích, hoặc lớp chặn điện tích. Việc sử dụng vật liệu này có thể cải thiện hiệu ứng quang điện và tuổi thọ của thiết bị. Cấu trúc điển hình của OLED bao gồm: điện cực cathode, lớp tiêm điện tử (EIL), lớp truyền điện tử (ETL), lớp chặn lỗ trống (HBL), lớp phát quang (EML), lớp chặn điện tử (EBL), lớp truyền lỗ trống (HTL), lớp tiêm lỗ trống (HIL) và điện cực anode.

5.2. Ứng Dụng trong Pin Mặt Trời Polymer

Trong lĩnh vực pin mặt trời, màng polymer dẫn điện pha tạp nano có thể được sử dụng làm lớp hấp thụ ánh sáng, lớp truyền điện tích, hoặc lớp tiếp xúc điện. Việc sử dụng vật liệu này có thể tăng hiệu suất chuyển đổi năng lượng và giảm chi phí sản xuất. Sự có mặt của các hạt nanô (hay chấm lượng tử) trong nền polymer có thể nâng cao hiệu suất cho linh kiện. Hiệu ứng dập tắt huỳnh quang, thì sự khuếch tán điện tử polymer sang hạt nano vô cơ, và lỗ trống khuếch tán từ hạt nano vô cơ sang poymer dẫn, sẽ dòng điện dẫn rất thích hợp cho việc chế tạo pin mặt trời.

5.3. Các ứng dụng cảm biến linh hoạt và transistor hữu cơ

Tính linh hoạt, khả năng dẫn điện và tính chất quang điện của màng polymer dẫn điện pha tạp nano mở ra cơ hội lớn trong việc phát triển các ứng dụng cảm biến linh hoạt và transistor hữu cơ. Chúng có thể được sử dụng để tạo ra các cảm biến nhạy bén với áp suất, nhiệt độ, hoặc các chất hóa học, đồng thời là vật liệu tiềm năng cho các transistor thế hệ mới với hiệu suất cao và chi phí thấp.

VI. Kết Luận Tương Lai Phát Triển Màng Polymer Dẫn Điện Hiện Nay

Màng polymer dẫn điện pha tạp nano là một lĩnh vực nghiên cứu đầy hứa hẹn với nhiều tiềm năng ứng dụng trong các thiết bị điện tử và quang điện tử polymer thế hệ mới. Việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp tổng hợp màng polymer dẫn điện mới, cải thiện sự phân tán của các hạt nano, và tối ưu hóa tính chất quang điện của vật liệu sẽ mở ra nhiều cơ hội ứng dụng thực tế trong tương lai. Các nghiên cứu cần tập trung vào hiệu ứng quang điện, điện hóa polymer, và sự ảnh hưởng của nanoparticle dispersion đến electron mobilityhole mobility.

6.1. Hướng Nghiên Cứu và Phát Triển Trong Tương Lai

Hướng nghiên cứu trong tương lai tập trung vào phát triển các phương pháp tổng hợp màng polymer dẫn điện mới với độ chính xác cao và chi phí thấp. Việc sử dụng các kỹ thuật tiên tiến như in 3D và tự lắp ráp có thể giúp tạo ra các vật liệu với cấu trúc và morphology được kiểm soát chặt chẽ. Ngoài ra, cần tập trung vào nghiên cứu các vật liệu nano mới với tính chất quang họctính chất điện tử vượt trội để cải thiện hiệu suất của màng polymer dẫn điện.

6.2. Tiềm Năng Thương Mại Hóa và Ứng Dụng Rộng Rãi

Với những ưu điểm vượt trội, màng polymer dẫn điện pha tạp nano có tiềm năng thương mại hóa và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Việc phát triển các quy trình sản xuất hiệu quả và giảm chi phí sản xuất sẽ giúp vật liệu này trở nên cạnh tranh hơn so với các vật liệu truyền thống. Trong tương lai, chúng ta có thể thấy màng polymer dẫn điện được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị điện tử, pin mặt trời, cảm biến, và nhiều ứng dụng khác.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Phát hiện về tính chất phát quang của polymer p-phenylenevinylene (PPV) do Bragley và các cộng sự vào năm 1990 đã mở ra những hướng nghiên cứu cơ bản và ứng dụng vật liệu phát quang hữu cơ. Đó là các polymer dẫn điện hay còn gọi là bán dẫn hữu cơ. Những polymer quan trong trong nhóm này là poly (N-vinylcarbazole) viết tắt là PVK, p-phenylenevinylene viết tắt là PPV, poly(2-methoxy,5-(2'-ethyl- hexosy)-1,4-phenylene-vinylene viết tắt là MEH-PPV, polyaniline viết tắt là PAni vv… Phần lớn những hiện tượng quang điện được biết đến đối với chất bán dẫn vô cơ đều tìm thấy ở những polymer dẫn này. Các thiết bị quang điện hiệu suất cao được chế tạo từ các polymer kết hợp chủ yếu bao gồm: điốt, điốt phát quang, photođiốt, tranzitor hiệu ứng trường, triốt, ống điện hóa phát quang, buồng vi cộng hưởng laser… Các linh kiện chế ta ̣o từ các polymer dẫn có cấu t rúc nhỏ gọn , mỏng (chiều dày vài trăm nanômét), trọng lượng nhỏ , diện tích phát quang rộng , phổ phát quang phong phú , có thể đa ̣t hiê ̣u suấ t bằ ng hoă ̣c cao hơn so với các linh kiện tương ứng chế ta ̣o bằ ng các chấ t vô cơ… Hơn nữa , công nghê ̣ chế tạo chúng đơn giản hơn nhiều , điều này hết sức có ý nghĩa vì nó cho phép sản xuất đại trà thành sản phẩm thương mại và hạ giá thành sản phẩm.

Tuy nhiên, để OLED thực sự phát huy được các giá trị của mình thì việc nâng cao hiệu suất và tuổi thọ cho linh kiện là rất cần thiết. Như đã biết, hiệu suất của OLED phụ thuộc vào ba yếu tố: 1/ Sự cân bằng giữa tốc độ tiêm điện tử và lỗ trống từ các điện cực vào lớp polymer phát quang. 2/ Sự kết hợp của các điện tử và lỗ trống để tạo ra exciton singlet trong lớp phát xạ. 3/ Sự phân rã phát xạ của các exciton.

Có nhiều cách đã được các nhóm nghiên cứu đề xuất để giải quyết vấn đề này như: 1/ Thêm các lớp truyền lỗ trống, truyền điện tử và chặn lỗ trống được chế tạo từ các loại polymer dẫn thuần khiết. 2/ Trộn các hạt bán dẫn vô cơ hoặc chấm lượng tử có kích thước nanômét vào các lớp phát quang hoặc các lớp đệm (lớp truyền lỗ trống hoặc lớp truyền điện tử) để tạo thành màng polymer tổ hợp cấu trúc nanô. Cách thứ nhất có thể đem lại hiệu suất cao nhưng chưa làm tăng tuổi thọ cho OLED. Cách thứ hai vừa có thể đem lại hiệu suất vừa có thể kéo dài thời gian hoạt động cho linh kiện.

Các nghiên cứu đã cho thấy các tính chất quang, điện của polymer TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 và linh kiện sẽ đa dạng và phong phú hơn nếu chúng được kết hợp với các hạt nanô vô cơ hoặc các chấm lượng tử để tạo thành tổ hợp nanocomposit. [1]-[2] Trong luận văn này, chúng tôi tập trưng nghiên cứu phương án thứ hai. Với việc chế tạo các linh kiện OLED bao gồm các cấu trúc là: ITO/PVK:MEH-PPV:nc- ZnO/Al, ITO/PAni:nc-TiO2/Al, ITO/PAni:nc-ZnO/Al và ITO/PAni:QD-CdSe/Al. Thông qua việc khảo sát đặc trưng cấu trúc, tính chất điện - quang của các màng nanocomposit và các linh kiện OLED đã chế tạo cho phép kết luận được hiệu suất phát quang đã được cải thiện đáng kể so với việc chế tạo OLED từ những vật liệu polymer thuần nhất.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Chƣơng 1 - Lý thuyết về polymer dẫn và cơ chế hoạt động của OLED 1. Cấu trúc vùng năng lƣợng của polymer dẫn và các hạt tải 1. Cấu trúc vùng năng lƣợng Polymer dẫn là hợp chất hữu cơ, mà phân tử của nó được xây dựng nên từ những khối cơ bản là các vòng benzene, bao gồm các chuỗi cácbon dài mà trong đó các liên kết đơn C-C và đôi C=C luân phiên kế tiếp nhau. Có thể nói rằng polymer dẫn là những đồng đẳng của benzene.

Liên kết giữa các phân tử được thực hiện bằng lực Van der Waals và sự chồng chéo của các hàm sóng của điện tử. Do có cấu trúc của vòng benzene nên trong phân tử polymer kết hợp có rất nhiều liên kết đôi (hay còn gọi là liên kết π) kém bền vững dẫn đến trạng thái bất định xứ của điện tử bao phủ toàn bộ chuỗi polymer. Các tính chất điện trong đó có khả năng dẫn điện của polymer kết hợp đều có nguồn gốc từ những điện tử π. Trong polymer dẫn cũng tồn tại độ rộng vùng cấm như trong bán dẫn vô cơ.

Sự chồng chập quỹ đạo của điện tử trong liên kết π dẫn đến sự tách thành hai mức năng lượng: mức năng lượng liên kết π và mức năng lượng phản liên kết π *. Mức năng lượng π được gọi là mức HOMO (quỹ đạo phân tử điền đầy cao nhất), mức năng lượng π* được gọi là mức LUMO (quỹ đạo phân tử không điền đầy thấp nhất). Sự tách thành hai mức năng lượng này dẫn đến sự hình thành hai vùng năng lượng tương ứng LUMO và HOMO, chúng có tính chất giống như vùng dẫn và vùng hoá trị của bán dẫn vô cơ. Khe năng lượng được tạo thành giữa hai mức HOMO và LUMO được gọi là vùng cấm của polymer dẫn.

Các polymer dẫn khác nhau có độ rộng vùng cấm khác nhau. Khi nhận những kích thích phù hợp từ photon, điện trường…, các điện tử có thể nhảy từ mức HOMO lên mức LUMO tạo ra cặp điện tử-lỗ trống (exciton), trong khoảng thời gian ngắn (cỡ picô giây), cặp điện tử-lỗ trống (exciton) này tái hợp và phát quang (luminescence).[3] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giản đồ mức năng lượng Hình 1. Mối quan hệ giữa HOMO, LUMO, HOMO và độ rộng vùng cấm LUMO, ái lực điện tử và thế ion hoá của polymer dẫn Giá trị độ rộng vùng cấm của các polymer dẫn thường có giá trị vài eV.

Năng lượng để đưa một điện tử từ mức HOMO lên mức chân không gọi là năng lượng iôn hoá (thế tương tác ion hoá Ip) của phân tử. Năng lượng để đưa một điện tử từ mức chân không về mức LUMO gọi là di lực điện tử (Ic) hay ái lực điện tử của phân tử. Quá trình chuyển điện tử ra khỏi mức LUMO (quá trình ion hoá) làm cho phân tử tích điện dương, tương ứng với quá trình dẫn lỗ trống. Ngược lại, quá trình thêm điện tử vào mức LUMO làm cho phân tử tích điện âm, tương ứng với quá trình dẫn điện tử.

Các hạt tải Trong các vật liệu bán dẫn vô cơ truyền thống, các hạt cơ bản như điện tử, lỗ trống và các giả hạt như phonon, exciton…là những phần tử tham gia vào quá trình tải điện tích và dẫn truyền năng lượng. Với polymer dẫn, các chuẩn hạt là những phần tử tham gia vào qúa trình tải điện tích và dẫn truyền năng lượng trong các chuỗi polymer. Trong các bán dẫn vô cơ, các điện tích dịch chuyển bằng cách truyền các điện tử trong vùng dẫn và các lỗ trống trong vùng hóa trị. Tuy nhiên trong các polymer dẫn, thì cấu trúc chuỗi dẫn đến liên kết mạnh của các trạng thái điện tử, gây ra các dạng kích thích như các soliton, polaron và các bipolaron, các giả hạt này là các phần tử mang điện tích, chúng bị định xứ cục bộ hơn so với các bán dẫn truyền thống, do chúng bị giam giữ trong chuỗi polymer đơn.

Các soliton, polaron và bipolaron có nhiệm vụ truyền điện tích, các exciton có nhiệm vụ truyền năng lượng. Lý thuyết về sự hình thành exciton Hình 1.3 mô tả sự hình thành các trạng thái kích thích của exciton dưới tác dụng của kích thích quang hoặc kích thích điện. Sau khi tiêm các điện tử và lỗ trống vào màng mỏng bán dẫn hữu cơ, các polaron tự do sẽ được tạo thành với xác suất thống kê, biến đổi thành các cation và anion của singlet và triplet (theo thứ tự lần lượt ký hiệu là S  và T  ). Sau khi được tạo thành, các trạng thái phân ly điện tích này sẽ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 chịu tác dụng của lực Culông của chính bản thân chúng, chúng sẽ liên kết với nhau thành từng cặp, cho đến khi cả điện tử và lỗ trống được định xứ trong bán kính exciton (rc(T)), bán kính này là hàm của nhiệt độ T.

Bán kính này được xác định bởi phương trình: rc  q 2 / 4kBT (1.1) trong đó:  : hằng số điện môi của màng mỏng hữu cơ k BT : năng lượng Boltzman q : điện tích của điện tử Hình 1. Mô hình về sự tạo thành các trạng thái singlet phát xạ thấp nhất (S) và trạng thái triplet không phát xạ (T) dưới kích thích quang và điện Sau mỗi lần bị bắt giữ, các cặp polaron liên kết trung hòa hoặc trạng thái truyền điện tích CT (charge transfer) sẽ được tạo thành. Sự tái hợp tạo ra các trạng thái S và T hoàn toàn mang tính chất thống kê. Tuy nhiên, mỗi lần các trạng thái CT được hình thành chúng sẽ tiếp tục định xứ, tạo thành các exciton Frenkel singlet hoặc triplet.

Các nhánh biến đổi thành S và T và tỷ lệ quyết định hiệu suất điện phát quang của môi trường huỳnh quang, và do sự bảo toàn spin chỉ có sự dịch chuyển từ trạng thái singlet về trạng thái cơ bản mới phát xạ. Với kích thích quang, chỉ có các singlet được tạo thành trong vật liệu huỳnh quang, mà sự tái hợp của chúng tạo thành quang huỳnh quang (PL). Trạng thái singlet Frenkel có thể phân ly thành các trạng thái độc lập tự do, hoặc có thể dịch chuyển nội hệ, ISC ("intersystem crossing"), có thể tạo thành các triplet. Tuy nhiên, khả năng xảy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 ra ISC là nhỏ vì đòi hỏi sự truyền spin do liên kết spin-quỹ đạo, loại liên kết đặc biệt yếu trong các vật liệu huỳnh quang.

Có hai phương pháp để tạo thành sự tái hợp: kích thích quang và kích thích điện. Với kích thích quang, phụ thuộc vào năng lượng của photon tới mà các singlet có mức năng lượng cao hơn (S*) có thể được ưu tiên kích thích trước, sau đó hình thành trạng thái bị kích thích thấp nhất (S). Sự hồi phục từ trạng thái S* về S tạo ra sự phát xạ. Tỷ lệ của sự dịch chuyển từ S*→T* được xác định bởi hệ số k ISC * Với kích thích điện, tỷ lệ giữa trạng thái singlet ( 1CT ) và triplet 3CT  được tạo thành một cách thống kê là 1:3.

Có thể có một vài dịch chuyển giữa những trạng thái này được quyết định bởi dịch chuyển nội hệ ISC. Tuy nhiên có khả năng những trạng thái CT sẽ dịch chuyển đơn giản về trạng thái bị kích thích thấp nhất, S và T, với tỷ lệ lần lượt là ks và kT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ