CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT H –O 1.1 Cơ sở hình thành lý thuyết H- O Mô hình Heckscher-Ohlin, nhiều khi được gọi tắt là Mô hình H-O, là một mô hình toán cân bằng tổng thể trong lý thuyết thương mại quốc tế và phân công lao động quốc tế dùng để dự báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào trên cơ sở những yếu tố sản xuất sẵn có của quốc gia. Eli Heckscher và Bertil Ohlin của Thụy Điển là hai người đầu tiên xây dựng mô hình này, 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nên mô hình mang tên họ, dù sau này có nhiều người khác tham gia phát triển mô hình. Mô hình dựa vào lý luận về lợi thế so sánh của David Ricardo.1 Lí thuyết về lợi thế so sánh của D.Ricacrdo David Ricardo (1772-1823) là nhà duy vật, nhà kinh tế học người Anh, ông được C. Mác đánh giá là người “đạt tới đỉnh cao nhất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển”.
Năm 1817 Ricardo xuất bản cuốn “Những nguyên tắc kinh tế chính trị và thuế”. Trong tác phẩm này ông đã trình bày lí thuyết về lợi thế so sánh và coi đó là cơ sở để các quốc gia giao thương với nhau. Qui luật lợi thế so sánh là một trong những qui luật quan trọng của kinh tế học nói chung và của kinh tế quốc tế nói riêng. Qui luật này được áp dụng rất nhiều trong thực tiễn và cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị.
Để xây dựng qui luật lợi thế so sánh, Ricardo đã đưa ra một số giả thiết làm đơn giản hoá mô hình trao đổi mậu dịch, các giả thiết đó là: Thế giới chỉ có 2 quốc gia và chỉ sản xuất 2 loại sản phẩm. Mậu dịch tự do. Lao động có thể di chuyển tự do chỉ trong một quốc gia nhưng không có khả năng di chuyển giữa các quốc gia. Chi phí sản xuất là cố định.
Không có chi phí vận chuyển. Chi phí sản xuất được đồng nhất với tiền lương. Tư tưởng chính của David Ricardo về mậu dịch quốc tế là: Mọi quốc gia luôn có thể và rất có lợi khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế. Bởi vì phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước: chỉ chuyên môn hoá vào sản xuất một số mặt hàng nhất định và xuất khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn các nước khác hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia và phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém thế so sánh nhất định về các mặt hàng khác. Chúng ta hãy xem xét ví dụ sau đây của Ricardo, ông đã chứng minh mọi nước đều có lợi thông qua phân công lao động và thương mại quốc tế, và lời kêu gọi sự tự do mậu dịch quốc tế, phá bỏ mọi trở ngại cho quá trình này.1 Lợi thế so sánh của Mỹ và châu Âu trong sản xuất lương thực và quần áo Quốc gia Mỹ Châu Âu Sản phẩm Lương thực (kg/giờ) 1 0,1875 Quần áo (bộ/giờ) 0,5 0,25 Qua bảng 1.1 ta thấy: ở Mỹ sản xuất 1 đơn vị lương thực hết 1 giờ lao động và sản xuất 1 đơn vị quần áo hết 2 giờ lao động. Còn ở Châu Âu sản xuất 1 đơn vị quần áo hết 4 giờ lao động. Nếu căn cứ vào học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith thì quá trình phân công lao động quốc tế sẽ không diễn ra và sẽ không có trao đổi quốc tế bời vì Mỹ có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn so với Châu Âu, cho nên sản xuất quần áo và lương thực đều với chi phí thấp hơn Châu Âu.
Nhưng theo Ricardo cả Mỹ và Châu Âu đều có lợi thế nếu 2 nước thực hiện phân công lao động và trao đổi buôn bán với nhau: Mỹ chuyên vào sản 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất lương thực và Châu Âu chuyên vào sản xuất quần áo. Sự chuyên môn hoá này dựa vào lợi thế so sánh của mỗi nước: Theo nguyên tắc trao đổi nguyên giá thì: Ở Mỹ : 1 lương thực = 0,5 quần áo 1 quần áo = 2 lương thực Còn ở Châu Âu: 1 lương thực = ¾ quần áo 1 quần áo = 1,33 lương thực Qua tỷ lệ trao đổi này ở 2 khu vực ta thấy: ở Mỹ có giá lương thực tương đối rẻ hơn so với giá quần áo và giá quần áo tương đối đắt hơn so với gía lương thực. Còn ngược lại ở Châu Âu giá lương thực tương đối đắt hơn so giá quần áo. Gỉa định xoá bỏ hàng rào bảo hộ mậu dịch, thực hiện sự tự do thương mại và chi phí vận tải không đáng kể thì khi thương mại diễn ra: Mỹ chuyên môn hoá vào sản xuất lương thực và mang một phần lương thực sang Châu Âu , nơi đó có giá lương thực tương đối cao hơn và giá quần áo tương đối rẻ hơn ở Mỹ.
Và Châu Âu thì ngược lại. Như vậy cả 2 khu vực đều có lợi thông qua thương mại. Ngoài ra sau khi có thương mại , một giờ công lao động của công nhân Mỹ mua được nhiều quần áo nhập khẩu hơn và công nhân Châu Âu mua được nhiều lương thực nhập khẩu hơn. Theo qui luật này, ngay cả một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối để sản xuẩt cả hai loại sản phẩm vẫn có lợi khi giao thương với một quốc gia khác được coi là có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả hai loại sản phẩm.
Trong điều kiện đó, quốc qia thứ hai lại càng có lợi hơn so với khi họ không giao thương. Trong trường hợp này, nếu một quốc gia bất lợi hoàn toàn trong sản xuất tất cả các sản phẩm thì họ vẫn có thể chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm bất lợi là nhỏ nhất thì họ vẫn có lợi. Còn quốc gia có lợi hoàn toàn trong sản xuất tất cả các sản phẩm sẽ tập trung chuyên môn hóa trong việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm có lợi là lớn nhất thì họ vẫn luôn có lợi. Tóm lại phát triển thương mại quốc tế có lợi cho tất cả các nước tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Những hạn chế trong của lí thuyết của D.
Ricacrdo dẫn tới sự hình thành của lí thuyết H-O Qui luật lợi thế so sánh được xem là một trong những lí thuyết kinh tế quốc tế quan trọng. Tuy nhiên lí thuyết của Ricardo vẫn còn những hạn chế cơ bản như sau: Các phân tích của Ricardo không tính đến cơ cấu về nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước, cho nên dựa vào lí thuyết của ông người ta không thể xác định giá tương đối mà các nước dùng trao đổi sản phẩm. Các phân tích của Ricardo không đề cập tới chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hoá và hàng raò bảo hộ mậu dịch mà các nước dựng lên. Các yếu tố này ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của thương mại quốc tế.
Lý thuyết của Ricardo không giải thích được nguồn gốc phát sinh thuận lợi của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó, cho nên không giải thích triệt để được nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại quốc tế. Để khắc phục những hạn chế của Ricardo, E.Ohlin trong tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản năm 1933 đã cố gắng giải thích nguyên nhân làm nên lợi thế so sánh trong quan hệ thương mại quốc tế.2 Nội dung lí thuyết H- O 1.1 Các giả thiết của Heckescher - Ohlin Mô hình ban đầu do Heckscher và Ohlin xây dựng chưa phải là mô hình toán, chỉ giới hạn với hai quốc gia, hai loại hàng hóa có thể đem trao đổi quốc tế và hai loại yếu tố sản xuất (đây là hai biến nội sinh). Vì thế mô hình ban đầu còn được gọi là Mô hình 2 x 2 x 2. Về sau, mô hình được Paul Samuelson là người đầu tiên áp dụng toán học vào, nên có khi được gọi là Mô hình Heckscher-Ohlin-Samuelson hay Mô hình H-O-S.
Jaroslav Vanek mở rộng để áp dụng cho nhiều quốc gia và nhiều sản phẩm, nên cũng thường được gọi là Mô hình Heckscher-Ohlin- Vanek. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mô hình Heckscher-Ohlin dựa trên các giả thiết sau: Thế giới chỉ có 2 quốc gia chỉ có 2 loại hàng hóa (X và Y) và chỉ có 2 yếu tố sản xuất là lao động và tư bản. Hai quốc gia sử dụng công nghệ sản xuất hàng hóa giống nhau và thị hiếu của các dân tộc như nhau. Hàng hóa X chứa đựng nhiều lao động, còn hàng hóa Y chứa đựng nhiều tư bản.
Tỷ lệ giữa đầu tư và sản lượng của 2 loại hàng hóa trong 2 quốc gia là một hằng số. Cả hai quốc gia đều chuyên môn hóa sản xuất ở mức không hoàn toàn. Cạnh tranh hoàn hảo ở thị trường hàng hóa và thị trường các yếu tố đầu vào ở cả 2 quốc gia. Công nghệ sản xuất cố định ở mỗi quốc gia và như nhau giữa các quốc gia Công nghệ đó ở mỗi quốc gia đều có lợi tức theo quy mô cố định.
Lao động và vốn có thể di chuyển tự do trong biên giới mỗi quốc gia, nhưng bị cản trở trong phạm vi quốc tế. Không có chi phí vận tải, không có hàng rào thuế quan và các trở ngại khác trong thương mại giữa hai nước.2 Hàm lượng các yếu tố sản xuất trong các hàng hóa và đường giới hạn khả năng sản xuất Mô hình Heckscher-Ohlin phiên bản 2 x 2 x 2 sử dụng hàm Cobb- Douglass vì nó phù hợp với giả thiết về lợi tức theo quy mô không đổi. Chúng ta nói rằng hàng hóa Y là hàng hóa chứa đựng nhiều tư bản nếu tỷ số tư bản/ lao động (K/L) được sử dụng để sản xuất hàng hóa Y lớn hơn hàng hóa X trong cả 2 quốc gia. Chúng ta cũng nói rằng quốc gia thứ II là quốc gia có sẵn tư bản với quốc gia thứ I nếu tỷ giá giữa tiền thuê tư bản lãi suất trên tiền lương (r/w) ở quốc gia này thấp hơn so với quốc gia thứ I.
Như vậy, đường giới hạn khả 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.