đặt vấn đề” [xem 32,390 - 391]. Là “người mà bdt cứ nơi nào, cứ mỗi bước, đều dat ra chính vấn dé phép biện chứng” [32,391], Arixtốt đã phat triển phép biện chứng với tư cách là phương pháp nhận thức. Trong học thuyết về lôgic và học thuyết về phạm trù, ông đã đề cập tới nhiều luận điểm biện chứng về mâu thuẫn. Phân tích cấu trúc bên trong của phán đoán, dễ dàng nhận thấy các bộ phận cấu thành nó - chủ từ và vị từ - trên thực tế thể hiện sự thống nhất biện chứng của các mặt đối lập: cái riêng và cái chung.
Phán đoán “ Xôcrát là người” có nghĩa cái riêng là cái chung. Cũng theo cách hiểu như vậy, Arixtốt đã phân tích mối quan hệ giữa “cái nhà nói chung” và “cái nhà cá biệt”, và đã được Lênin nhận xét là “vô cùng thú vị, sinh động, chdt phác (tươi tắn)” [32,389]. Một cách cô đọng nhất, có thể hiểu được quan niệm biện chứng về mâu thuẫn trong các phán đoán của Arixtốt qua nhận xét của Lénin: “bất cứ mệnh đề nào: lá cây đều xanh; Ivan là một người; Giutsơca là một con chó,v. Biện chứng của cái chung và cái riêng là tư tưởng xuyên suốt học thuyết về phạm trù của Arixtốt.
Trong tác phẩm Siêu hình học, khi phân tích mối quan hệ giữa khái niệm (cái chung, cái phổ biến) và các vật thể cụ thể (cái riêng, cái đơn nhất), ông đã nêu ra quan điểm của mình về vấn dé này. Ông viết “cái phổ biến không tồn tại bên cạnh và tách rời cái đơn nhất”. Tiếp đó, ông chỉ ra nguyên nhân mà những nhà triết học (điển hình là Platôn) “gán cho ý niệm” (khái niệm) một sự tồn tại độc lập là do “họ không thể chỉ ra cái gì là 15 những thực thể vĩnh cửu (ý niệm, khái niệm - NTB) như vậy, bên cạnh những vật thể cá biệt có thể cảm giác được và ở bên ngoài những vật thể ấy”. Ông kết luận: “hiển nhiên là không một cái gì biểu hiện phổ biến lại là thực thể đơn nhất, và không một thực thể đơn nhất nào gồm nhiều thực thể đơn nhất” [xem 32,391].
Lênin đã nhận xét quan điểm này là: “Tuyét!”, vì rang Arixtốt đã làm rõ được vấn đề mà “con người bị rối lên chính là ở trong phép biện chứng của cái chung và cái riêng, của khái niệm và cảm giác etc., của bản chất và hiện tượng etc. Có thể nói rằng, tuy Arixtốt đã đề cập tới hàng loạt các vấn đề của “hạt nhân phép biện chứng” - mâu thuẫn biện chứng; song lại chưa được giải quyết một cách triệt để khoa học. Đúng như nhận xét của Lênin: “Ở đây có quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhưng một cách ngẫu nhiên, không triệt để, không phát triển, ngắn ngui’ [32,393]; “Logic của Arixtốt là nhu cầu, là sự cố gắng tìm tòi, là sự đến gần với lôgic của Hêghen” [32,391]. Triết học kinh viện Trung cổ dưới sự thống trị tinh thần của nhà thờ biến thành tay sai cho thần học đã làm lụi tàn truyền thống biện chứng cổ đại.
Bước và thời kỳ Phục hưng - thời kỳ của “một cuộc đảo lộn tiến bộ nhất mà từ xưa tới nay, nhân loại đã trải qua” [35,20,459]; cùng với việc khôi phục lại các di sản văn hoá, tư tưởng thời cổ đại, các nhà triết học thời kỳ này cũng đã đoạn tuyệt với phép siêu hình kinh viện và phục hồi một phần phương pháp tư duy biện chứng cổ đại, trong đó có tư tưởng về mâu thuẫn với các đại biểu như Nicôlai Kudan va Gioocđanô Brunô. Nội dung biện chứng trong tư tưởng của Nicélai Kudan (1401 - 1464) thể hiện trong quan niệm của ông về thượng đế và thế giới theo quan điểm phiếm thần. Ông luận giải (thậm chí đồng nhất) Thượng đế với cái vô tận, cái duy nhất, cái tuyệt đối, cái tồn tại khả năng. Thượng đế sinh ra thế giới các sự vật hữu hạn; điều này cũng có nghĩa là cái hữu hạn sinh ra từ cái vô hạn, số nhiều sinh ra từ duy nhất, bộ phận sinh ra từ chỉnh thể.
Do đó, quan hệ giữa 16 Thượng đế và thế giới sự vật (kể cả con người) là sự thống nhất giữa các mặt đối lập. Ông viết: “Bậc sáng thế và sự sáng thế chính là một”; “Thượng đế ở trong mọi sự vật, giống như tất cả chúng đều ở trong đó" [trích theo 74,2,67] Sự thống nhất giữa các mặt đối lập không chỉ là nguyên tắc trong quan hệ giữa Thượng đế và thế giới sự vật, mà còn là nguyên tắc tồn tại của bản thân Thượng đế và các sự vật (cả con người). Ông viết: “vì thượng đế là tất cả, nên nó cũng là hư vô”, “nó ở khắp nơi và không ở đâu cả” [trích theo 74,2,74]. Tương tự như vậy, các su vật hiện hữu đều tạo thành từ các mặt đối lập: “Tat cả các vật đều cấu thành từ các mặt đối lập ở các cấp độ khác nhau, lúc thì nhiều hơn, lúc thì ít hơn, thể hiện bản chất của mình sinh ra từ hai sự tương phản bằng con đường chiếm ưu thế của sự tương phản này so với sự tương phan kia" [trích theo 74,2,74].
Sự luận giải quan hệ giữa các mặt đối lập đã dua Nicôlai Kudan tới tư tưởng biện chứng quan trọng nhất - tư tưởng về phát triển với tư cách là sự “thu hẹp” và “triển khai” của thế giới từ một cơ sở thống nhất và duy nhất, từ cái tuyệt đối. Thượng đế - cái thống nhất tuyệt đối bao hàm trong mình toàn bộ tính đa dạng vô tận của thế giới tự nhiên và con người dưới hình thức thu hẹp. Do vậy, sự ra đời của cái hiện hữu (giới tự nhiên, con người) chính là sự triển khai của thượng đế - tồn tại khả năng. Tính biện chứng của quan niệm về Thượng đế và thế giới ở Nicôlai gắn liền một cách hợp lý với tính biện chứng của sự lý giải về nhận thức.
Theo ông, trí tuệ của con người là một hệ thống năng lực phức tạp, về cơ bản các năng lực này nằm trong sự thống nhất và tác động qua lại. Luận điểm này mang tính biện chứng vì chỉ có sự tác động qua lại giữa các năng lực nhận thức mới dẫn tới chân lý đích thực; hơn nữa, ông còn cho rằng, chân lý không tách rời với mặt đối lập của nó là sai lầm, chúng gắn kết với nhau như bóng tối và ánh sáng. Những tư tưởng biện chứng về mâu thuẫn nói trên của Nicôlai Kudan đã có _———~—* 17 Vibe) ren | 390 | ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tiếp theo của phép biện chứng trong triết học Phục hưng. Brunô (1548-1600) đã chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tư tưởng này.
Giữ vị trí trung tâm trong triết hoc của Bruno là tư tưởng về cái duy nhất (Uno). Kế thừa tư tưởng về su thống nhất của các mặt đối lập của Nicôlal Kudan, Brunô quan niệm cái duy nhất là sự thống nhất giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, cực đại - cực tiểu, duy nhất - số nhiều, chính thể - bộ phận,. Cái duy nhất là bản chất và đồng thời là tổng thể các sự vật, nó là tất cả đồng thời lại không là gì cả, nó ở trong tất cả mọi cái đồng thời lại không ở đâu cả. Ông cũng kế thừa tư tưởng của Nicôlai về sự tự van động cua thế giới dưới hình thức cái duy nhất tự triển khai thành cái số nhiều - tức là sự chuyển hoá của các mặt đối lập.
Từ tư tưởng biện chứng về bản thể luận, ông đi tới kết luận biện chứng về nhận thức luận. Ông coi biện chứng của nhận thức là cái được nảy sinh khi chủ thể tái hiện biện chứng của khách thể (bản thể luận) trong ý thức. Cái duy nhất, thế giới được cấu thành từ các mặt đối lập nằm trong sự thống nhất, vì vậy nhiệm vụ cơ bản trong nhận thức của con người là phải làm sáng tỏ sự thống nhất ấy. Ông viết: “Ai muốn nghiên cứu những bí ẩn lớn nhất của tự nhiên, người đó phải xem xét và quan sát cực tiểu và cực đại của các mâu thuẫn, của các mặt đối lập.
Ma lực sâu sắc là ở khả năng tách biệt sự đối lập, tìm thấy trước điểm hợp nhất ấy” [trích theo 74,2,121]. Tuy còn ngây thơ và còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng thần học, nhưng tư tưởng biện chứng của Brunô đã đạt tới một tính khái quát và sâu sắc đáng kể, gần gũi với chủ nghĩa duy vật khi lý giải về tính biện chứng của tự nhiên và xác định khả năng đạt tới tính biện chứng đó trong nhận thức. Có thể nói rằng, trong thời kỳ Phục hưng, phép biện chứng do Nicôlai Kudan đưa ra, đã được tái hiện và tiếp tục phát triển; và triết học của Brunô là giai đoạn kết thúc của quá trình. Sự phát triển của khoa học cụ thé thế kỷ XVII - XVIII và việc di chuyển 18 các phương pháp của nó vào trong triết học, đã dẫn đến sự hình thành và thống trị của phương pháp tư duy siêu hình.
Tuy nhiên, khác với thời kỳ Trung cổ, lần này là sự phủ định triệt để hơn nữa triết học kinh viện so với triết học Phục hưng, là sự khắc phục hạn chế “thấy rừng mà không thấy cây” của phép biện chứng cổ đại. Do đó, đây là thời kỳ chuẩn bị những “hành trang triết học” cần thiết, để cùng với những giá trị của phép biện chứng cổ đại, tư duy biện chứng nhân loại tiến vào giai đoạn phát triển mới - phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức. Trước khi phép biện chứng mácxít ra đời, tư tưởng biện chứng về mâu thuẫn đạt được đỉnh cao nhất trong sự phát triển của nó trong học thuyết biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức, tiêu biểu nhất là I.Canto (1724-1804), khi phân đôi thế giới thành thế giới “hiện tượng luận” (thế giới kinh nghiệm) va thế giới “vật tự nó”, tương ứng với nó là hai trình độ đối lập của nhận thức con người: “giác tính” và “lý tính”, đã cho rằng: Giác tính chỉ thoả mãn trong lĩnh vực hién tượng luận và hoàn toàn bất lực trước vat tu nó - cái căn nguyên sâu xa, cái thực tồn, cái bản chất đích thực trong mỗi sự vật. Và ở chỗ giác tính dừng lại thì lý tính bắt đầu nhiệm vụ của mình.
Lý tính (khả năng trí tuệ cao nhất của con người) có nhiệm vụ cao cả là khát vong nhận thức mọi vấn đề một cách trọn vẹn và tuyệt đối, bao hàm cả “vat tự nó”.