Luận văn Luật quốc tế và học thuyết can thiệp nhân đạo - ĐH Quốc gia

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu luật quốc tế và học thuyết can thiệp nhân đạo, phân tích tính hợp pháp, thực tiễn áp dụng trong giữ gìn hòa bình quốc tế.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2010

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về học thuyết can thiệp nhân đạo trong luật quốc tế

Học thuyết can thiệp nhân đạo là một khái niệm gây tranh cãi sâu sắc trong luật quốc tế hiện đại. Theo luận văn thạc sĩ của Trần Thị Vân Trà (2010), can thiệp nhân đạo thường được hiểu là hành động sử dụng vũ lực hoặc các biện pháp cưỡng chế khác do một hoặc nhiều quốc gia tiến hành nhằm ngăn chặn các vi phạm nghiêm trọng quyền con người tại một quốc gia khác, bất chấp sự phản đối của chính phủ sở tại. Tuy nhiên, hành động này mâu thuẫn trực tiếp với các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc, đặc biệt là nguyên tắc không dùng vũ lựcnguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ. Dù xuất phát từ mục đích nhân đạo, việc áp đặt can thiệp bằng vũ lực lại dễ bị lợi dụng cho mục tiêu chính trị hoặc lợi ích địa chính trị, như trường hợp NATO tấn công Nam Tư năm 1999 hay Mỹ xâm lược Iraq năm 2003. Những tiền lệ này làm dấy lên lo ngại rằng học thuyết can thiệp nhân đạo đang trở thành công cụ hợp thức hóa các cuộc chiến tranh đơn phương. Do đó, cần phân biệt rõ giữa can thiệp nhân đạo hợp pháp – được Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ủy quyền – và những hành động đơn phương mang danh nghĩa nhân đạo nhưng thiếu cơ sở pháp lý quốc tế.

1.1. Khái niệm và nguồn gốc lịch sử của can thiệp nhân đạo

Khái niệm can thiệp nhân đạo bắt nguồn từ thế kỷ XIX, khi các cường quốc châu Âu can thiệp vào Đế chế Ottoman để bảo vệ các nhóm Kitô hữu. Tuy nhiên, chỉ đến sau Chiến tranh Lạnh, khái niệm này mới được sử dụng rộng rãi trong bối cảnh cộng đồng quốc tế chứng kiến hàng loạt vụ diệt chủngthảm sát dân sự tại Rwanda, Bosnia và Kosovo. Theo tài liệu nghiên cứu, học thuyết này không được quy định rõ ràng trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, mà chủ yếu hình thành qua thực tiễn và diễn giải học thuật. Điều này dẫn đến sự mơ hồ trong việc xác định ranh giới giữa bảo vệ nhân quyềnxâm phạm chủ quyền quốc gia.

1.2. Mối quan hệ giữa can thiệp nhân đạo và chủ quyền quốc gia

Một trong những tranh cãi cốt lõi xoay quanh học thuyết can thiệp nhân đạo là sự xung đột với chủ quyền quốc gia – trụ cột của trật tự pháp lý quốc tế. Nhiều học giả đề xuất khái niệm “chủ quyền có trách nhiệm”, theo đó chủ quyền không còn là lá chắn tuyệt đối để che giấu các tội ác chống lại nhân loại. Tuy nhiên, như Trần Thị Vân Trà nhấn mạnh, việc áp dụng khái niệm này một cách tùy tiện có thể dẫn đến lạm dụng can thiệp dưới danh nghĩa nhân đạo, làm suy yếu hệ thống luật quốc tế và tạo ra tiền lệ nguy hiểm cho các hành động đơn phương.

II. Thách thức pháp lý của học thuyết can thiệp nhân đạo hiện nay

Mặc dù được thúc đẩy bởi động cơ nhân đạo, học thuyết can thiệp nhân đạo đối mặt với nhiều thách thức pháp lý nghiêm trọng trong khuôn khổ luật quốc tế. Thứ nhất, hành động can thiệp bằng vũ lực mà không có nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc vi phạm Điều 2(4) của Hiến chương LHQ, vốn cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Thứ hai, không tồn tại một tiêu chuẩn khách quan nào để xác định “mức độ nghiêm trọng” của vi phạm nhân quyền đủ để biện minh cho can thiệp. Điều này tạo kẽ hở cho các quốc gia lớn áp đặt tiêu chuẩn kép – can thiệp nơi này nhưng làm ngơ nơi khác vì lợi ích chiến lược. Ví dụ điển hình là NATO can thiệp Kosovo năm 1999 mà không có ủy quyền của LHQ, trong khi cộng đồng quốc tế lại im lặng trước các vụ thảm sát ở Darfur hay Myanmar. Ngoài ra, hậu quả của can thiệp thường phức tạp hơn dự kiến: xung đột kéo dài, khủng hoảng tị nạn, và thậm chí là vi phạm nhân quyền quy mô lớn hơn. Như trường hợp Kosovo, dù Milosevic bị lật đổ, nhưng căng thẳng sắc tộc và bạo lực vẫn tiếp diễn, cho thấy can thiệp quân sự không phải lúc nào cũng mang lại hòa bình bền vững.

2.1. Vi phạm nguyên tắc không dùng vũ lực trong luật quốc tế

Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc cấm mọi quốc gia sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào. Can thiệp nhân đạo bằng vũ lực – nếu không được Hội đồng Bảo an cho phép – rõ ràng vi phạm điều khoản này. Dù có thể viện dẫn Điều 51 về quyền tự vệ tập thể, nhưng điều này không áp dụng cho các tình huống nhân đạo nội địa. Do đó, mọi hành động can thiệp đơn phương đều thiếu cơ sở pháp lý vững chắc trong hệ thống luật quốc tế hiện hành.

2.2. Thiếu tiêu chuẩn rõ ràng để xác định khủng hoảng nhân đạo

Không có định nghĩa thống nhất trong luật quốc tế về mức độ vi phạm nhân quyền nào đủ nghiêm trọng để biện minh cho can thiệp. Các khái niệm như “diệt chủng”, “tội ác chống loài người” tuy được quy định trong Công ước Genève và Tòa án Hình sự Quốc tế, nhưng việc áp dụng chúng vào thực tiễn can thiệp lại phụ thuộc vào ý chí chính trị của các cường quốc. Sự thiếu minh bạch này khiến học thuyết can thiệp nhân đạo dễ trở thành công cụ phục vụ lợi ích địa chính trị hơn là bảo vệ nhân quyền thực sự.

III. Phương pháp giải quyết xung đột nhân đạo phù hợp luật quốc tế

Thay vì dựa vào can thiệp nhân đạo bằng vũ lực, cộng đồng quốc tế nên ưu tiên các biện pháp hòa bình được Hiến chương Liên Hợp Quốc khuyến khích. Các phương pháp này bao gồm ngoại giao phòng ngừa, giải trừ quân bị, kiến tạo hòa bình, và xây dựng hòa bình sau xung đột. Đặc biệt, vai trò của Hội đồng Bảo an là then chốt trong việc xác định mối đe dọa hòa bình và ra quyết định can thiệp hợp pháp. Khi có bằng chứng rõ ràng về tội ác chiến tranh hoặc diệt chủng, Hội đồng Bảo an có thể áp dụng Chương VII của Hiến chương LHQ để triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình hoặc áp đặt lệnh trừng phạt. Ngoài ra, cơ chế Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) cũng đóng vai trò răn đe và truy tố cá nhân chịu trách nhiệm về các tội ác nghiêm trọng. Như luận văn của Trần Thị Vân Trà chỉ ra, việc tăng cường năng lực của các tổ chức khu vực như Liên minh châu Phi hay ASEAN trong ứng phó khủng hoảng nhân đạo cũng là hướng đi khả thi, giúp cân bằng quyền lực và giảm sự chi phối của các siêu cường.

3.1. Vai trò trung tâm của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc

Hội đồng Bảo an là cơ quan duy nhất có thẩm quyền hợp pháp để cho phép sử dụng vũ lực trong các tình huống đe dọa hòa bình quốc tế. Mọi hành động can thiệp nhân đạo cần được thông qua dưới dạng nghị quyết theo Chương VII Hiến chương LHQ. Việc tuân thủ quy trình này đảm bảo tính hợp pháp, minh bạchđa phương, tránh lạm dụng vì động cơ chính trị.

3.2. Tăng cường cơ chế phòng ngừa và giải quyết xung đột phi vũ lực

Các biện pháp củng cố lòng tin, giám sát nhân quyềntrợ giúp kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế có thể ngăn ngừa xung đột leo thang. Đầu tư vào giáo dục nhân quyền, pháp quyềndân chủ tại các quốc gia dễ tổn thương là cách tiếp cận bền vững hơn so với can thiệp quân sự cấp tốc.

IV. Ứng dụng thực tiễn của học thuyết can thiệp nhân đạo qua các vụ việc nổi bật

Thực tiễn quốc tế cho thấy học thuyết can thiệp nhân đạo đã được áp dụng trong nhiều cuộc khủng hoảng, nhưng với kết quả trái chiều. Trường hợp NATO can thiệp Kosovo năm 1999 là ví dụ điển hình. Dù được biện minh bằng cáo buộc thanh lọc sắc tộc người Albania, hành động này diễn ra mà không có ủy quyền của LHQ, gây tranh cãi sâu sắc về tính hợp pháp. Kết quả, Milosevic bị lật đổ, nhưng Kosovo rơi vào bất ổn kéo dài, với bạo lực sắc tộc và di cư hàng loạt. Ngược lại, tại Rwanda năm 1994, cộng đồng quốc tế im lặng trước vụ diệt chủng khiến gần 1 triệu người thiệt mạng – cho thấy sự thất bại trong việc áp dụng nghĩa vụ bảo vệ (R2P). Gần đây, can thiệp tại Libya năm 2011 ban đầu được Hội đồng Bảo an cho phép để thiết lập vùng cấm bay, nhưng nhanh chóng chuyển thành hỗ trợ lật đổ Gaddafi, dẫn đến khoảng trống quyền lực và nội chiến kéo dài. Những bài học này cho thấy: can thiệp nhân đạo chỉ hiệu quả khi có cơ sở pháp lý rõ ràng, mục tiêu giới hạn và kế hoạch hậu can thiệp cụ thể.

4.1. Phân tích can thiệp của NATO tại Kosovo năm 1999

NATO tiến hành chiến dịch không kích Serbia trong 78 ngày mà không có nghị quyết của Hội đồng Bảo an. Dù đạt được mục tiêu chính trị ngắn hạn, hành động này làm suy yếu uy tín của Liên Hợp Quốc và mở ra tiền lệ nguy hiểm cho can thiệp đơn phương. Đồng thời, xung đột sắc tộc tại Kosovo không chấm dứt mà tiếp tục âm ỉ, cho thấy giới hạn của giải pháp quân sự trong vấn đề nhân đạo.

4.2. Bài học từ sự im lặng quốc tế tại Rwanda 1994

Khi vụ diệt chủng Rwanda xảy ra, các quốc gia thành viên LHQ từ chối can thiệp, viện dẫn “không có lợi ích quốc gia”. Sự thất bại này thúc đẩy sự ra đời của nghĩa vụ bảo vệ (R2P) năm 2005, nhấn mạnh rằng chủ quyền đi kèm trách nhiệm bảo vệ dân cư khỏi tội ác nghiêm trọng.

V. Hướng đi tương lai cho học thuyết can thiệp nhân đạo trong luật quốc tế

Tương lai của học thuyết can thiệp nhân đạo phụ thuộc vào khả năng cải cách hệ thống luật quốc tế để cân bằng giữa bảo vệ nhân quyềntôn trọng chủ quyền. Một hướng đi khả thi là hoàn thiện và phổ cập nghĩa vụ bảo vệ (Responsibility to Protect - R2P), được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới năm 2005. R2P gồm ba trụ cột: (1) Trách nhiệm của mỗi quốc gia bảo vệ dân cư; (2) Trách nhiệm của cộng đồng quốc tế hỗ trợ; (3) Trách nhiệm can thiệp khi nhà nước thất bại. Tuy nhiên, để R2P không bị lạm dụng, cần thiết lập cơ chế giám sát độc lập và quy trình ra quyết định minh bạch tại Hội đồng Bảo an. Ngoài ra, việc cải cách Hội đồng Bảo an – giảm quyền phủ quyết trong các vụ diệt chủng – cũng là đề xuất cấp thiết. Cuối cùng, giáo dục pháp lý quốc tế và nâng cao nhận thức về nhân quyền toàn cầu sẽ góp phần xây dựng văn hóa phòng ngừa xung đột, thay vì chờ đợi đến khi phải can thiệp bằng vũ lực.

5.1. Vai trò của nghĩa vụ bảo vệ R2P trong cải cách luật quốc tế

R2P cung cấp khuôn khổ pháp lý linh hoạt hơn so với học thuyết can thiệp nhân đạo truyền thống, vì nó nhấn mạnh phòng ngừa và hỗ trợ thay vì can thiệp vũ trang. Tuy nhiên, để R2P hiệu quả, cần tránh lặp lại sai lầm Libya 2011 – nơi nghị quyết nhân đạo bị biến thành công cụ lật đổ chính quyền.

5.2. Cải cách Hội đồng Bảo an để tăng tính đại diện và minh bạch

Quyền phủ quyết của năm ủy viên thường trực thường cản trở hành động kịp thời trong khủng hoảng nhân đạo. Đề xuất loại bỏ quyền phủ quyết trong các vụ diệt chủng hoặc tội ác chống loài người đang được nhiều quốc gia ủng hộ, nhằm đảm bảo phản ứng tập thể hiệu quả và công bằng hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn luật quốc tế và học thuyết can thiệp nhân đạo

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI KHOA LUẬT TRAN THỊ VÂN TRÀ LUAT QUOC TE VA HOC THUYET CAN THIEP NHAN DAO LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2010 ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI KHOA LUẬT TRẦN THỊ VÂN TRÀ LUẬT QUỐC TẾ VA HOC THUYET CAN THIỆP NHÂN DAO Chuyên ngành : Luật quốc tế Ma sé : 60 38 60 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Ngiời hlláng dẫn khoa học: PGS.TS Đỉnh Ngọc VIlợng TIA NOI - 2010 MUCLUC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoạn: Mue lục Danh mục các hộp MỞ ĐÀU Chương Ï: CAN THIỆP NHÂN DẠO TRONG HOẠT DỘNG GIỮ GIN HOA BINH QUOC TE Giữ gin hòa bình quốc tế: khái niệm, lịch sử hình thành, các hình thức và nguyên tắc cơ bản Khai niệm giữ gìn hòa bình quốc tế Lich sử hình thành của hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế Các hình thức cơ bản của hoạt động giữ gìn hỏa bình quốc tế An ninh tap thé Ngoai giao phéng ngira Cưỡng chế hoả bình. Kiến tạo hoà bình. Xây dụng hoả bình sau xang đệt Giải trừ quân bị Các biện pháp củng cô lòng tin Các biện pháp bảo đầm an ninh quấc tế Nguyên tắc hoạt động giữ gìn hỏa bình quốc tế 16 Nguyên tắc an ninh không chia cắt 16 1 Nguyên tắc an ninh bình đăng 16 'Với cuộc chiến này, các nhà phân tích tin ring, đã xuất hiện một chiều hướng chính trị thế giới mới, làm rỡ nhiều vẫn đề về can thiệp nhân đạo ở giai doan hiện nay trong cách giải quyết vấn dé của các nhà lãnh đạo các nước phương Tây. Năm 2003, Mỹ tắn công vào Iraq bắt chấp sự phán dỗi của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế.

Lý do được Mỹ đưa ra là Iraq đang sở hữu vũ khí Indy diệt hàng loạt, đe dọa nền hòa bình của các quốc gia trong khu vue; Iraq dang chứa chấp các lỗ chức khủng bố quốc tế; nước này không tuân thủ chương trình đổi dầu lấy lương thực và tất nhiên là lraq đã vả đang tiến hành diệt chủng người Kurd. Một lần nữa học thuyết can thiệp nhân đạo được sử dụng làm phương tiện cho những cuộc tân công quân sự vào một quốc gia cỏ chủ quyên. Tác giả chọn để lài nêu trên để nghiên cứu vì những lý do sau day - Học thuyết can thiệp nhân đạo vi phạm nghiềm trọng các nguyên tắc co bản của Luật quốc tế hiện đại, trong đó có nguyên không dùng vũ lực hoặc de dọa dùng vũ lực, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác - Học thuyết can thiệp nhân dao dé cao van đề nhân quyền. Trung thời đại hiện nay, nhân quyền là một đề tài nóng bỏng, nhật là nạn diệt chúng và thắm sát.

Chúng nhận được sự quan tâm xác đáng của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, trong quá khứ gần và hiện nay, những vụ thắm sát vẫn cứ điễn ra một cách âm thầm hay công khai, núp dưới những "tấm khiến" chủ quyền quốc gia, lợi ích của đa số cộng đồng, đối lập về niễm tin tôn giáo,. Nhưng dù với bắt kỳ lý do gì thì chúng vẫn là những hành vi cần lên án và ngăn chặn. - Ilạo thuyết này đang được một số quốc gia sử dụng một cách Lùy tiện vì lợi ích của mình.

Hậu quả gây nên sự mất dn định tỉnh hình thể giới cũng như lấn át sự cân bằng của trật tự pháp lý quốc tế. Tình hình đó làm các quốc gia khác, nhất là những quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên Lịch sử hình thành, phát triển và thực tiễn hoạt động của 17 học thuyết can thiệp nhân đạo "Từ sự hình thành khái niệm can thiện nhân đạo tới việc trở thành một hệ thống trong pháp luật quốc Những hoạt động can thiệp nhân đạo trong thời gian chiến 19 tranh lạnh (1945-1991) Thue Liễn của hoạt động can thiệp nhân dao trong giai đoạn 2 hiện nay Khía cạnh chủ chốt của học thuyết can thiệp nhân đạo trong 26 hoạt động can thiệp của NA TO ở Kosovo 1.1, Diễn biển khủng hoảng tại Kosovo 26 1. Khia cạnh chủ chốt của học thuyết can thiệp nhân đạo trong 29 hoạt động can thiệp của NATO ở Eosovo Chương 2: LUẬT QUỐC TẾ VA LY THUYET VE CAN THIEP 34 NITAN DAO 21 Khia canh hop pháp của can thiệp nhân đạo: tỷ lệ hợp lý 34 giữa luật quốc tế hiện đại và vấn đề báo vệ quyền con người Can thiệp nhân dao theo quan điểm của Luật quốc tế hiện đại 34 N Bảo vệ quyền con người là một lĩnh vực quan trọng của 38 k2 ia Tuuật quố Khai niệm về "chủ quyền hạn chế" 42 we v Lý thuyết hiện đại về can thiệp nhân đạo TIoàn cảnh ra đời của lýthuyết hiện đại về can thiệp nhân đạo N bà Lý thuyết hiện đại vỀ can thiệp nhân đạo to we k2 Chương 3: CAN THIỆP NHÂN DẠO MỘT HỈNH THỨC MỚI 'VÀ ĐẶC BIỆT ĐẺ GIỮ GÌN HÒA BÌNH QUỐC TẾ. Xây dựng khái niệm can thiệp nhân đạo thích hợp với luật quốc tế hiện đại nhằm giữ gìn hoa bình quốc tế 'Tù sau năm 1989, các cuộc xung đột vũ trang vả các vụ việc khác làm gia Lắng các vi phạm quyền con người nghiêm trọng trên diện rộng, mà Mỹ và phương !ây gọi chúng là "khủng hoảng mang tính chất nhân đạo" hay "khủng hoảng nhân đạo", "thảm họa nhân đạo".

Các học giả luật quốc tế ủng hộ can thiệp nhân đạo tiếp Lục đưa ra những luận điểm mới chứng minh sự hợp ly và cẦn thiết của hoạt dộng can thiệp nhân đạo. Có thể kể đến như cuốn THumanilarian Tniervenlion. Ethical Endeavours and the Poliics 0Ÿ Intieresis của Roy Isbister (2000), cuốn Humanitarian Intervention. Legal and political Aspects cla Copenhagen (1999), Biên cạnh dé, xuất hiện một xu thế nghiên cứu về can thiệp nhân dạo nhằm tìm cách áp dung hoạt động này một cách hiệu quả hon.

Ở Mỹ, quốc gia dẫn đầu trong hoạt động can thiệp nhân đạo, một số trường đại học và viện nghiên cứu vẫn đang tiễn hành các dự án có liên quan. Đi đầu phong trào này là Brooking Tnstitutes hoặc trưởng dai hoc John Hopkins với một số tác phẩm sau: cuén Chaos and Dissolution after the Cold War, Balkan Stratery cha Susan Woodward (1998); cudn Inlervention: ihe Use of American Miliary Face im the Post-cold War World cla Richad N.S Intervention from Northen Iraq ta Kosovo cia Robert C. Muc dich và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của sự hình thánh và phát triển của học thuyết can thiệp nhân đạo, và từ đó đánh giá những hạt nhân tích cực của học thuyết này. Bên cạnh đó để tài phần tích các tác động tiêu cực lẫn tích cực của học thuyết tới Luật quốc tế hiện đại.

Qua do đề xuất những giải pháp cho Luật quốc tế hiện đại nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của học thuyết. Phạm ví nghiên cứu của đề tài Dé tài tập trung chủ yêu vào việc nghiên cứu vẫn để can thiệp nhân đạo theo nghĩa hẹp: can thiệp có sử đạng vũ lực. Luận văn đề cập đến tính quan trong hay vị tri địa - chính trị đặc biệt lo lăng cho sự an toàn của quốc gia mình - Học thuyết can thiệp nhân đạo đang nhận được những quan điểm trái chiều nhau. Bên ủng hộ thì cho rằng học thuyết này dé cao vấn dé nhân quyền - vấn để ngày càng trở nên quan trọng trong thế giới hiện đại và văn minh, va quan trọng hơn cả chủ quyên quốc gia.

Bên phản đối thi dua ra chỉnh kiến rằng việc vận dựng học thuyết vi phạm chủ quyển của các quốc gia, oan thiệp thô bạo vào công việc của quốo gia khác. Hai quan điểm này, có quan điểm nào là đúng hoàn toàn hay không, hay là oó thể có một nhận định dung hoà giữa chúng? Bởi mat ân đề luân có hai mặt của chúng, nên đánh giá những tác động tích oực vá tiêu cựo của học thuyết tởi luật quốc tế hiện đại sẽ cho chúng ta cải nhìn đúng đắn hơn về học thuyết. Và Luật quốc tế sẽ cần những thay đổi để phát huy tính lich cực, giảm thiểu tính tiêu oực của học thuyết 2. Tình hình nghiên cứu đề tài - Tinh hình nghiên cứa trang Hước liọc thuyết can thiệp nhân đạo được nghiên cứu khá khiêm tổn ở Việt Nam.

Nó mới được để cập ở mức độ một số bài viết, ở góc độ mặt tiêu cực của học thuyết. Iliện nay chưa có một nghiên cửu cụ thể về học thuyết can thiệp nhân đạo, về những ảnh hưởng của né tới Luật quốc tế hiện đại dưới góc độ là một nhân tô tác động nhằm hoàn thiện Luật quốc tế. - Tình hình nghiên cứu ở turớc ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ